KHOẢNG TRỐNG: Số 10

http://truyenhiepsi.blogspot.com

 J. K. Rowling


IV

- Bác sĩ Jawanda sẽ đến trễ độ mười lăm phút. - Người tiếp tân báo với Tessa.

- Ồ không sao, - Tessa đáp. - tôi cũng không vội lắm.

Trời vừa chớm tối, những cánh cửa sổ trong phòng đợi như những mảng màu lam trong suốt chạm trên tường. Chỉ có hai người trong phòng: một bà cụ lọm khọm thở khò khè, chân mang dép đi trong nhà, người kia là một thiếu phụ ngồi đọc tạp chí trong khi đứa con nhỏ mải lục lọi hộp đồ chơi trong góc phòng. Tessa nhặt tờ tạp chí Heat cũ mèm xộc xệch trên cái bàn đặt giữa phòng rồi ngồi xuống lật lật, ngó qua các bức ảnh. Khoảng thời gian chờ đợi cho cô thêm thời gian chuẩn bị những gì định nói với Parminder.

Sáng nay hai bên đã nói qua với nhau trên điện thoại. Tessa vô cùng áy náy vì đã không báo ngay cho Parminder biết vụ ông Barry. Parminder nói không sao, nhưng Tessa không ngây thơ đến mức tin rằng bà ta không hề buồn bực gì. Tessa vốn đầy kinh nghiệm tiếp xúc với kiểu người dễ tự ái và mong manh nên biết chắc rằng dưới cái vỏ xù xì của mình, bà Parminder vẫn bị tổn thương. Cô gắng phân trần rằng mấy ngày rồi mệt quá sức, lại còn phải quay cuồng với Mary, Colin, Fats, và cả Krystal Weedon; rằng cô thấy quá tải, mất phương hướng và không còn nghĩ tới được bất kỳ việc gì khác ngoài những thứ cần làm ngay trước mắt. Nhưng Parminder cắt ngang tràng giải thích dông dài đó và bình tĩnh nói rằng sẽ gặp cô sau tại phòng khám bệnh.

Bác sĩ Crawford ló ra từ ngăn khám bệnh của mình, tóc ông bạc trắng, dáng người vâm váp như gấu. Ông nhiệt tình vẫy tay chào Tessa rồi gọi “Chị Maisie Lawford?” Người mẹ trẻ phải vất vả lắm mới bảo được cô con gái bỏ chiếc điện thoại đồ chơi gắn bánh xe cũ tìm được trong thùng đồ chơi xuống. Khi được mẹ dẫn vào theo bác sĩ Crawford, cô bé cứ ngoái cổ lại nhìn mãi chiếc điện thoại còn chưa kịp khám phá xem trong đó có gì.

Khi cửa đã đóng lại sau lưng hai mẹ con, Tessa nhận ra mình đang mỉm cười ngơ ngẩn, cô vội lập nghiêm trở lại. Cô rồi sẽ trở thành một bà già dễ sợ hay lảm nhảm với bọn trẻ con làm chúng sợ phát khiếp. Và sẽ yêu quý đứa con gái nhỏ mũm mĩm tóc vàng nào cặp kè với cậu con gầy nhom kín tiếng của mình. Lạ thật đấy, Tessa vừa nghĩ vừa nhớ lại Fats hồi mới biết đi, con mình sống sờ sờ ra đó mà hình bóng hồi xưa của nó vẫn cứ đầy ắp trong lòng; chúng đâu bao giờ biết được cảm giác mất mát liên tục của người làm cha làm mẹ khi nhìn thấy con cái lớn dần lên, mà nếu biết chắc chúng cũng không ưa thích gì.

Ngăn khám của bà Parminder mở ra, Tessa nhìn lên.

- Mời bà Weedon. - Parminder nói. Mắt bà chạm phải Tessa, bà kéo căng cơ miệng nhoẻn một nụ cười máy móc. Bà cụ nhỏ bé đi dép trong nhà khó khăn chống tay đứng dậy, tập tễnh theo Parminder bước qua bức vách ngăn. Tessa nghe tiếng cửa ngăn khám bệnh của Parminder đóng lại.

Cô đọc chú thích của một loạt ảnh chụp hình một cô vợ cầu thủ bóng đá trong đủ kiểu áo váy mặc trong năm ngày qua. Vừa ngắm nghía cặp chân thon dài miên man của cô gái, Tessa vừa tự hỏi không biết đời mình sẽ khác hiện giờ đến thế nào nếu có được cặp giò hoàn hảo. Hẳn là sẽ hoàn toàn khác. Chân Tessa to mập và ngắn ngủn, cô luôn phải giấu chúng bằng cách đi bốt cao, nhưng kiếm được cặp bốt vừa bắp chân quá khổ cũng không dễ dàng gì. Cô nhớ có lần tư vấn cho một em gái khá đô con rằng vẻ ngoài chẳng là gì, tính cách mới là quan trọng nhất. Ta toàn dạy bọn trẻ những thứ rác rưởi, Tessa nghĩ và lật sang trang khác.

Cánh cửa ngăn khám khuất sau bức tường bật ra đánh rầm. Có người đang la lên bằng giọng khào khào.

- Cô chỉ làm tui chết mau hơn thì có. Thế không đúng. Tui tới đây để cô cứu tôi mà, nghề của cô mà, không phải…

Tessa và người tiếp tân liếc mắt nhìn nhau rồi cùng quay về hướng tiếng hét. Rồi Tessa nghe tiếng Parminder, giọng bà hãy còn đặc khẩu âm vùng Brummie sau ngần ấy năm sống ở Pagford.

- Bà Weedon, bà vẫn cứ hút thuốc, như thế sẽ ảnh hưởng tới liều lượng thuốc tôi kê cho bà. Người hút thuốc chuyển hóa Theophylline nhanh hơn người thường nên nếu bà không chịu bỏ thuốc thì thuốc lá sẽ không những làm bệnh khí thũng của bà nặng hơn, mà thật ra còn ảnh hưởng tới tác dụng thuốc để…

- Sao lại quát tui hả! Tui chịu đủ rồi! Tui sẽ trình báo cô! Cái đống thuốc chó chết cô kê sai toét hết! Tui sẽ đi khám người khác! Tui sẽ nhờ bác sĩ Crawford!

Bà cụ từ sau vách lập cập đi ra, mặt mày đỏ tía.

- Nó hại chết tui, cái đồ bò cái! Đừng có lại gần nó! - Bà gào lên với Tessa. - Nó sẽ giết cô với đống thuốc cứt đái đó, thứ đồ quỷ cái da màu!

Bà lảo đảo đi ra cửa, cặp chân gầy như ống sậy lẩy bẩy trên đôi dép lê, bà vừa thở khèn khẹt vừa ra sức chửi rủa hết mức bộ phổi rệu rã cho phép. Cánh cửa khép lại sau lưng bà. Người tiếp tân lại liếc nhìn Tessa. Họ nghe tiếng cửa ngăn khám của Parminder đóng lại.

Năm phút sau, Parminder mới bước ra. Người tiếp tân cố tình cắm mặt vào màn hình.

- Mời cô Wall. - Parminder gọi, mặt lại căng ra nụ cười cứng ngắc.

- Thế có chuyện gì vậy? - Tessa hỏi khi đã ngồi xuống ghế ở đầu bàn làm việc của Parminder.

- Toa thuốc mới làm bà Weedon đau dạ dày. - Parminder bình thản đáp - Thế hôm nay làm xét nghiệm máu cho cô, phải không?

- Vâng. - Tessa đáp, cô vừa ngại vừa buồn trước trước vẻ chuyên nghiệp lạnh như băng của Parminder. - Dạo này chị thế nào, chị Minda?

- Tôi ấy à? - Parminder hỏi lại. - Vẫn khỏe. Sao thế?

- À vì... chuyện ông Barry... em biết chị rất quý ông ấy mà ông ấy cũng quý chị.

Lệ dâng ngập mắt Parminder, bà cố chớp mắt cho trôi nhưng không kịp, Tessa đã kịp thấy.

- Chị Minda. - Cô khẽ nói, nhẹ nhàng đặt bàn tay to mập lên bàn tay mỏng gầy của Parminder, bà này lập tức rụt lại như bị châm. Sau phản ứng không giấu nổi, bà bật khóc, không biết tránh vào đâu trong căn phòng bé tí dù đã gắng xoay ghế vào trong hết mức.

- Cứ nghĩ tới chuyện quên gọi điện báo là em thấy mình thật tệ. - Tessa nói trong khi Parminder đang điên tiết ráng kiềm tiếng nức nở mà không được. - Em chỉ muốn thu mình lại rồi chết đi cho rồi. Em thật sự đã định gọi điện cho chị. - Cô nói dối. - nhưng mà tụi em không được ngủ, rồi gần suốt đêm ngồi trong bệnh viện, ra viện một cái là tới thẳng chỗ làm luôn. Lúc thông báo tin này trong buổi sinh hoạt toàn trường, Colin cũng không kìm chế nổi, cuối cùng gây ra một màn chẳng hay ho gì với con bé Krystal Weedon ngay trước mặt mọi người. Rồi thì thằng Stuart nhà em nó bày trò cúp học. Và chị Mary thì suy sụp hoàn toàn… Nhưng mà đúng là lỗi của em, chị Minda ạ, đúng ra em phải điện cho chị.

-... ớ vẩn. - giọng Parminder đặc nghẹt sau tấm khăn vừa rút trong tay áo ra. - Mary... là quan trọng nhất...

- Chắc hẳn chị là là một trong những người đầu tiên Barry muốn báo tin. - Tessa nghẹn ngào nói, rồi cô sợ hãi nhận thấy mình cũng òa khóc.

- Minda, em rất rất xin lỗi, - Cô nức nở. - nhưng mà em phải lo cho Colin và bao nhiêu người khác nữa.

- Đừng có khờ thế. - Parminder nuốt khan, chấm chấm gương mặt gầy. - Chúng ta đều hóa lố bịch cả.

Không, không hề. Cứ trút lòng dù chỉ một lần đi mà, Parminder...

Nhưng bà bác sĩ đã so đôi vai gầy, xỉ mũi và ngồi thẳng lưng lại.

- Anh Vikram kể với chị phải không? - Tessa rụt rè hỏi, tay rút một túm khăn giấy từ hộp giấy trên bàn Parminder.

- Không. - Parminder khô khan đáp. - Là Howard Mollison. Trong tiệm thực phẩm.

- Ôi trời ơi. Minda. Em xin lỗi.

- Đừng có ngớ ngẩn thế, không sao đâu.

Khóc xong, Parminder thấy giải tỏa đôi chút và đỡ lạnh lùng với Tessa, cô này đang mải lau nước mắt nước mũi trên gương mặt hiền lành không son phấn. Đúng là nhẹ lòng, giờ Barry đã đi rồi, Parminder chỉ còn mỗi Tessa là bạn thực sự ở Pagford này. (Lúc nào bà cũng tự nhủ “ở Pagford”, vờ như ở đâu đó khác ngoài thị trấn nhỏ bé này bà có cả trăm người bạn thủy chung. Bà không bao giờ chịu hoàn toàn thừa nhận rằng số bạn ảo đó thật ra chỉ là ký ức về mấy người bạn học hồi còn ở Birmingham, sóng đời từ lâu đã đẩy bà trôi dạt khỏi họ quá xa; ngoài ra chỉ có thêm vài đồng nghiệp trong ngành Y mà bà từng học và nghiên cứu cùng, họ vẫn trao đổi bưu thiếp Giáng Sinh với nhau, nhưng họ chẳng bao giờ đến thăm bà và bà cũng không bao giờ tìm tới họ.)

- Colin thế nào rồi?

Tessa rền rĩ.

- Ôi đất trời ơi, chị Minda,... Anh ấy nói muốn tranh cử thế chỗ Barry trong hội đồng khu.

Nếp hằn giữa đôi chân mày rậm và đen của Parminder càng khoặm sâu thêm.

- Chị có hình dung nổi Colin mà lại đi tranh cử hay không? - Tessa tiếp, tay nắm chặt mớ khăn giấy ướt. - Rồi đi đối phó với những người như Anbrey Fawley và Howard Mollison hay sao? Anh ấy cố thay thế vị trí Barry, còn nói phải đấu tranh thắng lợi vì Barry. - gánh hết những trách nhiệm còn dở dang...

- Giờ ở trường Colin đã có hàng bao nhiêu trách nhiệm rồi. - Parminder nhận xét.

- Thật ra có gì mấy đâu. - Tessa đáp ngay không kịp nghĩ, rồi cô lập tức cảm thấy mình như vừa phản bội chồng nên lại tấm tức khóc. Lạ thật, lúc đầu cô vào phòng khám, định bụng sẽ an ủi Parminder, thế mà giờ chính cô lại tuôn ra hàng tràng những chuyện khó khăn riêng của mình - Chị biết tính Colin rồi đấy, anh ấy nặng lòng với mọi chuyện, xử người xử việc chủ quan quá...

- Cô biết mà, anh ấy đã cân nhắc kĩ việc gì thì sẽ xoay xở được thôi. - Parminder nói.

- À vâng, em biết, đúng thế. - Tessa mệt mỏi đáp. Cô xem ra có vẻ đã hết muốn tranh cãi. - Em biết.

Colin là người duy nhất mà bà Parminder độc lập, lạnh rắn này tỏ ra khoan dung. Đổi lại, Colin cũng chưa khi nào chịu để vào tai lời nào chống lại bà; ông luôn tận tụy bênh vực bà ở Pagford này. “Một ủy viên hội đồng xuất sắc”, ông bảo thế, và sẵn lòng quặc lại bất kỳ ai dám chỉ trích bà mà để đến tai ông. “Giỏi nhất đấy”. Parminder không có mấy người ủng hộ, dân cố cựu của Pagford không ưa bà, vì bà không chuộng dùng kháng sinh và hay kê toa thuốc giống nhau.

- Nếu Howard Mollison mà xoay được theo kiểu ông ta muốn thì không có bầu báng gì đâu. - Parminder nói.

- Thế là thế nào?

- Ông ta vừa gửi email. Tôi nhận được cách đây nửa giờ.

Parminder quay sang màn hình máy tính, gõ mật khẩu rồi vào hộp thư. Cô xoay màn hình để Tessa đọc được thông điệp của Howard. Đoạn đầu ông tỏ lòng thương tiếc trước sự ra đi của Barry. Sau đó ông viện lẽ một năm trong nhiệm kỳ của Barry đã qua, vì thế nên chọn cách đồng chỉ định người thay thế thay vì tổ chức bầu cử vất vả phức tạp.

- Ông ấy xếp sẵn người cả rồi. - Parminder bình luận. - Giờ nếu không có ai ngăn cản thì ông ta sẽ tìm cách nhét cánh hầu của mình vào. Nếu ứng viên đó là Miles thì tôi cũng chẳng ngạc nhiên đâu.

- Ồ, chắc chắn là không phải đâu. - Tessa đáp ngay. - Miles cũng trong bệnh viện cùng Barry hôm đó mà… không đâu, cậu ta rất là buồn vì...

- Tessa, cô đúng là ngây thơ hết thuốc chữa. - Parminder nói. Tessa giật mình vì vẻ cay độc trong giọng bà bác sĩ. - Cô không biết Howard Mollison là người như thế nào đâu. Ông ta là đồ đê tiện, đúng, rất đê tiện. Đó là cô chưa nghe ông ta nói gì khi biết Barry có viết bài đăng báo về khu Fields đấy. Cô cũng chưa biết ông ta đang nhăm nhe làm gì với trung tâm cai nghiện đâu. Cứ chờ đó. Rồi xem.

Tay bà ta run bần bật đến nỗi phải cố gắng mới đóng được email của Mollison.

- Cứ chờ xem. - Bà lặp lại. - Được rồi, thôi ta tiếp đi. Laura có việc ra ngoài một phút. Tôi đo huyết áp cho cô trước đã.

Parminder ưu ái Tessa nên mới nhận lời khám bệnh cho cô vào giờ muộn thế này, sau khi cô ở trường về. Cô y tá thực tập sống ở Yarvil, nên trên đường về nhà sẽ cầm luôn mẫu máu của Tessa gửi cho phòng thí nghiệm của bệnh viện. Tessa kéo ống tay áo len màu xanh lên, đột nhiên thấy mình căng thẳng và yếu ớt kỳ lạ. Bác sĩ quấn vòng đo huyết áp quanh bắp tay cô. Khi nhìn gần, những nét giống nhau giữa Parminder và cô con gái thứ hai lộ rõ: Khác biệt về vóc dáng (Parminder mảnh khảnh còn Sukhvinder khá nảy nở) trông không rõ mấy nữa, còn những nét tương đồng trên gương mặt lại nổi bật lên: mũi diều hâu, khuôn miệng rộng với môi dưới dày mọng, cặp mắt tròn to đen thẳm. Máy đo siết vào bắp tay mềm nhẽo của Tessa đến phát đau, Parminder đọc chỉ số hiện trên mặt đồng hồ đo.

- Một sáu năm trên tám mươi tám. - Parminder chau mày. - Thế là cao đấy, Tessa. Cao quá.

Bà thuần thục và khéo léo tháo vỏ chiếc kim tiêm mới nguyên, kéo thẳng cánh tay nhợt nhạt lấm tấm nốt ruồi của Tessa ra rồi nhấn kim ngọt vào mặt trong khuỷu tay.

- Tối mai em sẽ đưa Stuart đi mua đồ. - Tessa ngước nhìn lên trần nhà. - Để kiếm cho nó một bộ lễ phục tử tế mặc hôm đám tang. Nó mà mặc quần jean thì không biết sẽ như thế nào nữa. Chắc Colin lại cáu tiết lên.

Cô gắng không nghĩ tới dòng chất lỏng bí hiểm sẫm màu đang chảy vào ống nhựa nhỏ bé. Cô sợ máu mình tố cáo rằng cô đã không ăn uống lành mạnh đúng mực, và chỗ sôcôla và bánh quy cô đưa vào mồm sẽ biến thành chỉ số glucose.

Rồi cô cay đắng nghĩ, giả như đời cô không phải lúc nào cũng căng như dây đàn thế thì chắc đã dễ nhịn sôcôla hơn. Chứ hầu như suốt cả ngày cứ phải giúp đỡ, phục vụ người khác thì rốt cục ăn bánh quy cũng chẳng phải tội lỗi gì cho cam. Lúc nhìn Parminder băng bịt vết rút máu, cô tự nhiên hi vọng - dù chồng cô và bà bạn hẳn nghĩ là cô lạc loài - rằng Howard Mollison sẽ thắng và không có bầu báng gì ráo cả.


V

Hàng ngày cứ đúng năm giờ là Simon Price rời xưởng in, đều đặn như cỗ máy. Đã đến thời gian cho chính mình, chính thế: Ngôi nhà cao trên đồi đang đợi, sạch sẽ, mát mẻ, tách hẳn khỏi tiếng ù ù lách cách không bao giờ ngừng trong xưởng tại Yarvil. Nán lại chỗ làm sau giờ khóa máy (giờ Simon đã lên chức quản lý nhưng gã vẫn hay dùng cách nói như hồi còn học việc) sẽ khiến người ta mặc nhiên cho là cuộc sống gia đình anh không được tròn vẹn, hoặc tệ hơn, anh đang liếm gót cấp trên.

Nhưng hôm nay Simon đánh xe đi một vòng trước khi về nhà. Gã gặp tay tài xế xe nâng hay nhai kẹo cao su trong bãi đỗ xe rồi cùng đi xuyên những con đường tối tăm theo sự chỉ dẫn của thằng nhóc tới khu Fields, ngang qua căn nhà Simon sống hồi bé. Nhiều năm nay gã không đi ngang qua đây: mẹ đã chết, bố bỏ đi từ năm gã mười bốn tuổi, giờ cũng chẳng biết ông lưu lạc tận đâu. Simon thấy buồn khi nhìn căn nhà cũ giờ đã đóng ván bít một bên cửa sổ, cỏ mọc lút đầu gối. Bà mẹ quá cố của gã từng rất tự hào về căn nhà này.

Thằng nhóc bảo Simon đậu xe cuối đường Foley rồi nhảy ra, bỏ mặc gã đó để tiến về phía một căn nhà trông hết sức cùng cực. Dưới ánh sáng ngọn đèn đường gần nhất, gã thấy rác rưởi dường như chất đầy dưới cửa sổ tầng trệt. Mãi đến bây giờ gã mới giật mình tự hỏi không biết suy tính thế nào mà lại đánh xe hơi của chính mình đi nhận cái máy vi tính ăn cắp. Thời buổi này hẳn là trong khu có gắn camera theo dõi tội phạm. Gã liếc quanh nhưng không thấy bóng dáng chiếc máy quay nào; hình như cũng chẳng có ai nhìn gã trừ một bà béo trong nhà đang trừng trừng nhìn qua những ô cửa sổ nhỏ, vuông vắn trông như cửa sổ công sở. Simon trợn mắt nhìn lại, nhưng bà ta vẫn cứ vừa hút thuốc vừa nhìn gã chằm chặp, gã đành lấy tay che mặt mà nhìn qua kính chắn gió.

Gã đồng hành đã ló ra từ căn nhà, lễ mễ khiêng thùng đựng máy vi tính về phía chiếc xe. Sau lưng gã, trên bậc cửa căn nhà, Simon thấy một con bé độ mười mấy tuổi đang đứng, một thằng nhỏ bám dưới chân, khi thấy gã nhìn con bé bỏ đi kéo theo thằng nhóc.

Simon vặn chìa khởi động xe, rồ máy sẵn khi gã “kẹo cao su” tiến lại gần.

- Cẩn thận đấy! - Simon bảo, nhoài người sang mở cửa xe. - Cứ đặt xuống đó đi.

Thằng nhóc đặt thùng máy tính xuống chiếc ghế còn ấm hơi người. Simon định mở ra xem có đúng hàng không, nhưng vì càng lúc càng thấy căng thẳng do hành động quá khinh suất nên cuối cùng gã chỉ lấy tay ẩy thử thùng máy một cái: nó rất nặng, không dễ khiêng chút nào. Gã muốn biến ngay.

- Để mày ở đây tự về được không nhóc? - Gã gọi to, chuẩn bị đạp ga.

- Cho đi nhờ về khách sạn Crannock với.

- Không xong rồi bồ tèo, tớ đi đường khác. - Simon đáp. - Thôi vui vẻ nhá.

Simon vọt đi. Qua kính chiếu hậu, gã thấy thằng nhóc đang tức giận đứng đó, miệng nó lẩm bẩm cái gì như là “mẹ mày!”. Nhưng Simon chẳng thèm để ý. Nếu vọt cho nhanh, hi vọng bảng số xe của gã sẽ không bị quẳng lên báo trong tấm hình chụp trắng đen nổi hột trích từ băng ghi hình của camera theo dõi.

Mười phút sau, gã tới được chỗ đường vòng rẽ về nhà, nhưng dù đã xa hẳn Yarvil, xuống khỏi đường cao tốc hai chiều và chạy xe lên hướng tòa tu viện đổ nát trên đồi, gã vẫn thấy căng thẳng bực bội. Gã chẳng thấy cảm giác thoải mái thường có mỗi buổi chiều tối, khi lên tới đỉnh đồi và thấy ngôi nhà mình hiện ra như tấm khăn tay trắng bé xíu trên dốc đồi bên kia, giữa là thung lũng thị trấn Pagford.

Mới về đến nhà chừng mươi phút nhưng Ruth đã kịp xong bữa tối, cô đang dọn bàn thì Simon bưng thùng máy bước vào; Nhà Trên Đồi này theo nếp sinh hoạt ăn sớm, ngủ sớm, dậy sớm vì Simon thích thế. Ruth kêu lên mừng rỡ khi thấy cái thùng nặng trịch trên tay chồng. Vợ gã đâu có hiểu chồng mình vừa gặp chuyện gì; cô ta càng không bao giờ biết phải mạo hiểm cỡ nào mới kiếm được hàng rẻ. Về phần mình, Ruth đánh hơi thấy tâm trạng Simon đang cực kỳ xấu, sẵn sàng bùng nổ bất cứ lúc nào, thế là cô áp dụng cách đối phó duy nhất mình biết trong trường hợp đó: cô liến láu đủ chuyện vui vẻ trong ngày của mình, phấp phỏng hi vọng rằng ông chồng sẽ đỡ cáu hơn khi đã nhồi thức ăn vào bụng và không có chuyện gì khiến gã bực thêm.

Chẳng mấy chốc đã tới sáu giờ, Simon đã kịp mở thùng máy ra xem, trong đó không có hướng dẫn sử dụng. Rồi cả nhà ngồi vào bàn ăn tối.

Andrew biết mẹ mình đang căng thẳng, bởi bà cứ nói mấy chuyện vô thưởng vô phạt với cái vẻ vui vẻ giả tạo thường thấy. Hình như Ruth nghĩ mình cứ gắng làm cho không khí thật thuận hòa êm ấm là Simon sẽ không nỡ nào phá tan; dù kinh nghiệm bao nhiêu năm qua chứng minh cách đó hoàn toàn vô hiệu. Andrew tự xúc lấy món khoai tây hầm thịt băm (do Ruth nấu sẵn, bữa tối những ngày đi làm chỉ cần rã đông là có món ăn) và tránh chạm mắt với bố. Nó còn nhiều chuyện thú vị để mà nghĩ hơn ông bà bô. Hôm nay Gaia Bawden đã nói “Chào” với nó khi hai đứa chạm mặt nhau ngoài phòng thí nghiệm sinh vật; câu chào tự động bật ra, rất bình thường, nhưng suốt buổi học đó cô nàng chẳng liếc nó lấy một lần.

Andrew ước gì hiểu được nhiều hơn về bọn con gái, nó chẳng bao giờ có bạn gái nào đủ gắn bó để hiểu được bọn này suy nghĩ kiểu gì. Thật ra sự non kém ấy chẳng khiến Andrew bận tâm mấy cho đến khi Gaia bước lên xe buýt của trường lần đầu tiên và thực sự hút hồn nó; cảm xúc này khác hẳn sự kích động chung chung đã cồn cào mấy năm nay khi nhìn những bộ ngực non mới nhú, dây áo ngực thấp thoáng sau áo trắng đồng phục hay sự tò mò pha chút kinh tởm của nó trước “sản phẩm” của những kỳ kinh nguyệt.

Fats có mấy cô em họ thỉnh thoảng tới thăm. Có lần, khi vào phòng tắm nhà Walls sau khi cô em xinh nhất vừa ra khỏi đó, Andrew thấy miếng vỏ băng vệ sinh trong suốt lay lất cạnh thùng rác phòng tắm. Đối với cậu Andrew mười ba tuổi khi đó, cái bằng chứng thực sự cho thấy một cô gái sát bên nó đang tới kỳ chẳng khác nào hình ảnh sao chổi hiếm. Nó đủ khôn để không kể cho Fats nghe mình đã thấy gì và phấn khích đến cỡ nào. Nó chỉ nhón tay nhặt lấy tờ vỏ bao, thả nhanh vào thùng rác rồi vội vã rửa tay thật kĩ, chưa bao giờ trong đời nó rửa kĩ đến thế.

Andrew ngồi lỳ hàng buổi trước laptop để xem trang Facebook của Gaia. Trên đó cô nàng còn “khủng” hơn ngoài đời. Nó mất hàng giờ xem hình những bạn bè mà Gaia đã bỏ lại ở thủ đô. Nàng đến từ một thế giới khác: nàng có bạn da đen, bạn châu Á, bạn nàng có những cái tên mà thậm chí nó không phát âm được. Tấm nàng mặc đồ bơi khiến đầu nó bốc lửa, rồi một tấm nữa, nàng dựa người vào một gã bảnh trai thô tục da màu café. Gã đó không có mụn và có râu thực sự. Khi đọc kĩ hết những tin nhắn nàng viết trên đó, Andrew biết gã này mười tám tuổi, tên là Marco de Luca. Andrew soi kĩ từng câu Gaia và Marco viết cho nhau như chuyên gia giải mã, cố tìm hiểu xem hai người có ý tiếp tục qua lại hay không.

Lần nào lướt Facebook Andrew cũng hơi căng thẳng, vì ông bố Simon chẳng biết gì nhiều về internet, nhưng theo bản năng ông ta biết đó là lãnh địa duy nhất mà hai đứa con trai được tự do và thành thạo hơn mình, thế nên ông bố thường đột ngột xông vào phòng ngủ để kiểm tra chúng đang xem thứ gì. Simon viện cớ muốn biết chúng có tải hay xem cái gì làm tăng hóa đơn internet không, nhưng Andrew thừa biết bố chỉ muốn kiểm soát nốt việc dùng internet của nó, thế nên nó luôn đặt con trỏ chuột chờn vờn ngay dấu đóng trang mỗi khi lên mạng xem thông tin về Gaia.

Ruth vẫn đang lảm nhảm hết chuyện này tới chuyện khác, những mong Simon nói thêm vài câu ngoài mấy từ ừ hữ cộc lốc nhưng vô hiệu.

- À phải rồi, - Đột nhiên cô reo lên. - quên bẵng đi chứ, hôm nay em có kể với Shirley rằng anh có thể ra ứng cử đấy Simon.

Tin này thúc thẳng vào lòng Andrew.

- Bố định ứng cử vào hội đồng à? - Nó buột miệng.

Simon chậm rãi nhướng mày. Cơ hàm gã căng ra.

- Thế đấy, có gì không? - Gã hỏi, giọng đe dọa.

- Không ạ. - Andrew nói dối.

Đùa cái chó gì thế? Ông hả? Ra ứng cử ấy hả? Chết tiệt chứ, không đời nào.

- Nghe như mày không thích chuyện đó hả? - Simon hỏi, mắt vẫn xoáy vào thằng con.

- Không ạ. - Andrew lại nói, cúi mắt xuống dĩa thịt hầm khoai tây.

- Tao ra ứng cử hội đồng thì sao? - Simon không chịu thôi. Gã đang muốn tìm chỗ trút giận cho hả cơn.

- Đâu có gì. Con ngạc nhiên thì hỏi thế thôi.

- Thế tao phải hỏi ý kiến mày trước hả? - Simon gầm gừ.

- Không ạ.

- Thế hả, cảm ơn nhé. - Quai hàm Simon trề ra như mỗi lần mất bình tĩnh - Mày tìm được việc làm chưa hả, cái đồ lười nhác ăn bám kia?

- Chưa ạ.

Simon trừng trừng nhìn Andrew, gã không ăn nữa, tay vẫn cầm nĩa xiên miếng thịt hầm khoai đang nguội dần. Andrew lại cúi đầu ăn để không trêu gan ông bố nữa. Không khí trong bếp nặng hẳn. Chỉ nghe tiếng dao của Paul chạm dĩa lách cách.

- Shirley nói, - Ruth nói tiếp, giọng rướn cao vớt vát, vờ như mọi sự vẫn ổn. - là sẽ đăng trên website thể thức đăng ký ứng cử đấy Simon.

Simon không trả lời.

Thấy cố gắng cuối cùng cũng không xong, Ruth đành im bặt. Cô sợ mình đoán trúng căn nguyên tâm trạng tồi tệ của Simon. Nỗi lo âu giày vò cô; cô lúc nào cũng nơm nớp, không tránh được. Cô biết Simon sẽ phát khùng nếu cô đòi hỏi gã trấn an là mọi chuyện không sao. Cô không được nói gì hết.

- Si này?

- Gì?

- Sẽ không sao chứ, phải không? Cái máy tính ấy?

Cô rõ ràng là một diễn viên tồi. Cô cố hỏi một cách bình tĩnh như chuyện thường nhưng giọng cô vẫn cứ căng lên the thé.

Đây không phải lần đầu tiên hàng ăn cắp xuất hiện trong nhà này. Simon biết làm vài trò tháu cáy với đồng hồ đo điện, và vài việc này nọ khác ở xưởng in để kiếm tiền. Mấy vụ kiểu đó làm Ruth luôn bồn chồn trong dạ, nửa đêm hay thảng thốt giật mình, nhưng Simon luôn coi khinh những kẻ không dám đi đường tắt (lúc mới yêu, cô thích cậu trai xù xì, hoang dã luôn khinh khỉnh và thô lỗ với hầu hết mọi người, thế mà cậu lại chịu vất vả theo đuổi cô; cái người khó tính khó chiều nhường ấy lại chỉ chọn cô làm người xứng đáng bên anh ta mà thôi).

- Cô nói cái gì thế? - Simon lạnh lẽo hỏi. Gã chuyển cái nhìn trừng trừng cay độc từ Andrew sang Ruth.

- Thì, chắc sẽ không có... không có rắc rối gì, phải không?

Simon cuồng nộ muốn cho vợ mình một trận vì tội ngửi ra được đúng điều gã đang sợ và làm gã càng căng thẳng thêm.

- Ờ thì, khó nói lắm, - Gã chậm rãi đáp, kéo dài thời gian để kịp dựng chuyện - nhưng hóa ra cuỗm mấy món này cũng hơi khó. - Andrew và Paul ngừng ăn nhìn sững ông bố. - Có gã bảo an bị đập tơi tả. Lúc tôi biết được thì đã quá trễ rồi. Thôi thì cầu cho gã không tỉnh lại.

Ruth nghẹn thở. Cô không tin nổi gã kể về vụ cướp tàn bạo bằng giọng tỉnh lạnh đến thế. Chính vì vậy mà gã cáu khi về nhà; hóa ra đây là nguồn cơn mọi chuyện.

- Cho nên không được nói cho bất cứ ai là nhà ta có cái máy. - Simon nói, nhìn xoáy vào từng người, khắc sâu mối nguy hiểm vào lòng họ.

- Không đâu. - Ruth hổn hển.

Cô lập tức hình dung ra cảnh cảnh sát gõ cửa, đòi khám máy, rồi Simon bị bắt, bị kết tội oan là đã hành hung người khác và bị tống vào tù.

- Các con nghe bố nói rồi đấy chứ? - Cô hỏi, giọng chỉ hơn tiếng thì thầm đôi chút. - Không được nói với ai là nhà ta có máy tính mới nghe chưa?

- Được rồi. - Simon bảo. - Sẽ ổn thôi. Nếu chịu ngậm cái mồm vào.

Gã lại tiếp tục với món thịt hầm. Mắt Ruth đảo đi đảo lại từ chồng sang hai đứa con. Paul sợ hãi ngồi im dồn thức ăn ra mép đĩa.

Nhưng Andrew chẳng tin lời nào từ ông bố.

Đồ lừa đảo. Toàn làm bộ làm tịch để dọa mẹ ta thôi.

Rốt cục cũng xong bữa, Simon đứng dậy. - Để xem thứ chết toi này có chạy không. Mày, - Gã chỉ tay vào Paul. - ra nhấc cái máy khỏi thùng, thật cẩn thận đấy, rồi đặt nó lên cái bệ kia. Còn mày, - Gã lại trỏ Andrew, mày rành máy tính đúng không? Chỉ cho tao.

Simon bước vào phòng khách. Andrew biết gã cố tình làm thế để hai anh em làm hỏng việc: Paul đang run lại nhỏ người; thế nào cũng làm rơi máy khi khiêng, còn chính nó thì sẽ phải mò mẫm khi mở thử cái máy. Trong bếp, Ruth đang lăng xăng lau dọn. Ít ra bây giờ cô không dính vào cái lò lửa này.

Andrew đến giúp Paul khiêng cái ổ cứng.

- Để nó khiêng, làm gì mà yếu ớt đến thế? - Simon gầm gừ đằng sau.

Không biết kỳ diệu thế nào mà Paul, dù tay run lẩy bẩy, vẫn để được máy lên bệ mà không xảy ra chuyện gì, rồi nó đứng rũ tay bên cạnh làm Simon vướng không vào góc để máy được.

- Tránh đường ra thằng ngu. - Simon quát. Paul chạy vội ra sau ghế sofa, ló ra nhìn. Simon nhặt đại một sợi dây nối quay sang hỏi Andrew:

- Cái này gắn vào đâu?

Gắn vào đít ông ấy.

- Bố đưa nó cho con rồi...

- Tao hỏi mày là gắn nó vào đâu? - Simon gầm lên. - Mày rành vi tính mà. Nói tao biết cắm nó vào đâu!

Andrew cúi nhìn phần sau chiếc máy tính, lúc đầu nó nhầm, nhưng sau tình cờ chỉ đúng ổ cắm.

Lúc gần xong thì Ruth cũng bước vào phòng khách. Chỉ cần nhìn lướt qua là Andrew biết mẹ không mong thứ này chạy được, rõ ràng mẹ nó chỉ mong ông bố đem chôn cái máy tính đâu đó cho rảnh và đừng bận tâm tới món tiền 80 bảng đã bỏ ra nữa.

Simon ngồi trước màn hình. Sau nhiều lần bấm thử không xong, gã phát hiện ra con chuột không dây thiếu pin. Thằng Paul bị sai chạy ngay xuống bếp kiếm. Khi nó đem tới, gã giật phắt lấy như thể nó định chôm mấy viên pin đó.

Thộn lưỡi vào dưới môi, làm cằm phùng ra trông ngớ ngẩn không thể tả, Simon phồng mang trợn mắt nhét mấy viên pin vào chuột. Gã lúc nào cũng trưng cái vẻ cáu điên ấy ra để cảnh báo rằng gã đang căng hết mức, có chuyện gì xảy ra là gã không chịu trách nhiệm đâu. Andrew hình dung mình bỏ đi, để mặc ông bố loay hoay một mình; nó mà quay đi thật chắc con chuột sẽ phi luôn vào lưng nó.

- Mẹ nó, vào đi chứ!

Simon gầm lên bằng cái giọng trầm đục súc vật, rất hợp với vẻ mặt nhăn nhúm hung hăng của mình.

- Hừ... hừ... Cái...! Mày làm đi! Mày đó! Ngón tay mày nhỏ như tay con gái mà!

Simon ném con chuột lẫn nắm pin vào ngực Paul. Thằng bé lập cập nhét pin vào, đậy nắp nhựa lại rồi đưa lại cho ông bố.

- Cảm ơn nhé, Paul ẻo lả.

Cằm Simon vẫn phồng ra như khỉ đột. Gã thường làm như thể mấy thứ đồ vật vô tri cũng đang hè nhau chơi mình. Gã lại đặt con chuột trên tấm lót.

Hoạt động đi.

Đầu mũi tên trắng nhỏ xuất hiện trên màn hình, chạy xoắn xít theo tay rê của Simon.

Cái nút thắt sợ hãi đã mở, ba khán giả cùng thở ra nhẹ nhõm. Simon thôi không phồng mang trợn mắt nữa. Andrew hình dung ra cảnh dây chuyền người Nhật mặc áo choàng trắng đứng lắp ráp chiếc máy hoàn mỹ này, tất cả bọn họ đều có những ngón tay khéo léo, tinh tế như Paul; họ cúi chào nó một cách văn minh lịch sự. Andrew lặng lẽ chúc phúc cho họ lẫn gia đình họ. Hẳn họ không bao giờ hình dung nổi chuyện chiếc máy này chạy được hay không sống còn đến cỡ nào.

Ruth, Andrew và Paul chăm chú nhìn Simon thử máy. Gã mở ra hàng loạt menu rồi không biết làm sao đóng lại, nhấn vào mấy biểu tượng mà gã chẳng biết là gì và lúng túng khi những hiệu ứng lạ hiện ra, nhưng rõ ràng tâm trạng của gã không còn cuồng nộ đáng sợ như trước. Gã mò mẫm tìm cách trở lại màn hình desktop rồi ngẩng lên hỏi Ruth: “Có vẻ được đấy chứ?”

- Tuyệt vời! - Cô lập tức trả lời, ráng nặn ra nụ cười như thể mấy chuyện hồi nửa tiếng trước chưa từng xảy ra, như thể ông chồng mua máy từ cửa hàng Dixons và gắn dây nối máy mà không ầm ĩ đe dọa gì cả. - Cái này chạy nhanh hơn, Simon. Nhanh hơn cái máy cũ nhiều.

Lão còn chưa mở internet mà, mẹ chả biết gì cả.

- Ờ, tôi cũng thấy thế.

Gã lại nhìn chòng chọc hai cậu con.

- Cái máy này mới tinh và đắt tiền lắm đấy, phải dùng cho cẩn thận, nghe chưa? Với lại không được hé ra với ai đâu đấy.

Hai đứa gật đầu. Mặt Paul vẫn còn căng thẳng sợ sệt. Ông bố không thấy nó lấy ngón trỏ mảnh dẻ vạch ngoằn ngoèo hình số tám lên chân.

- Mà có ai đi kéo cái rèm lại đi chứ? Chết tiệt, sao còn để rèm mở hả?

Vì tụi tôi đều phải đứng đây nhìn ông loay hoay như c...

Andrew kéo rèm rồi bỏ ra khỏi phòng.

Nhưng sau khi về phòng ngủ và lăn ra giường rồi, Andrew vẫn không sao lấy lại cái cảm giác dễ chịu khi mơ tưởng về Gaia Bawden. Viễn cảnh ông bố ra ứng cử hội đồng cứ như núi băng trôi khổng lồ ám bóng mọi thứ, kể cả Gaia.

Từ trước đến nay, đối với Andrew, ông bố là người tù tự nguyện của cái thói khinh miệt tất cả mọi người, biến nhà nó thành pháo đài biệt lập với thế giới mà trong đó ý muốn của ông ta là mệnh lệnh, còn tâm trạng mỗi ngày quyết định không khí của cả nhà. Khi đã lớn hơn, Andrew hiểu cách sống biệt lập đó là không bình thường nên lấy làm xấu hổ về chuyện này. Bố mẹ bạn bè hỏi Andrew sống ở đâu vì không biết gia đình nó, họ cũng hỏi mấy câu thông thường kiểu mẹ hay bố cháu có định tham gia sự kiện xã hội hay gây quỹ gì đó không. Có khi họ cũng nhớ ra từng gặp Ruth trong mấy năm con họ học tiểu học, lúc mấy bà mẹ cùng ngồi với nhau trong sân trường. Mẹ Andrew hòa đồng hơn bố nhiều. Nếu không cưới một người khó ưa như thế hẳn bà đã từa tựa như mẹ Fats, suốt ngày gặp bạn bè ăn trưa, ăn tối và bận rộn với đủ mối quan hệ trong thị trấn.

Vào những dịp hiếm hoi Simon giáp mặt với người nào mà gã nghĩ là đáng kết giao, gã sẽ khoác cái vẻ chân thật tử tế làm Andrew phát buồn nôn. Thế rồi gã cũng nói chuyện, ráng pha trò và thường vô tình đạp đổ mọi quy tắc xã giao tế nhị, đơn giản vì gã chẳng biết gì, cũng không quan tâm gì lắm tới những người mà gã buộc phải tiếp xúc. Sau này Andrew tự hỏi không biết ông bố có coi những người khác là có tồn tại thực sự không nữa.

Andrew không dò ra được vì sao ông bố mình lại ôm tham vọng vẫy vùng trên vũ đài rộng lớn hơn, nhưng chắc chắn chuyện đó sẽ là thảm họa tồi tệ. Andrew biết bố mẹ mấy đứa khác tài trợ cuộc đua xe đạp để gây quỹ mua đèn trang trí quảng trường dịp Giáng sinh, hoặc hướng dẫn tổ chức nữ sinh, hoặc lập câu lạc bộ sách. Còn bố nó không tham gia bất kỳ hoạt động nào đòi hỏi sự cộng tác kiểu như vậy, và cũng chưa khi nào tỏ ra quan tâm đến bất kỳ chuyện gì không đưa đến lợi lộc trực tiếp cho ông ta.

Rồi Andrew hình dung ra viễn cảnh khủng khiếp: Ông bố đọc bài diễn văn toàn những lời dối trá hiển nhiên mà bà mẹ sẽ tin trọn; ông ta phồng mang trợn má dọa dẫm đối thủ; rồi ông ta mất bình tĩnh văng ra cả tràng mấy từ tục tĩu hay dùng: cứt, l..., chó đẻ, chết tiệt...

Andrew kéo chiếc laptop lại gần rồi lại đẩy ra ngay. Nó cũng không buồn chạm tới cái di động trên bàn. Không có dòng tin hay bài viết nào chứa hết cảm giác căng thẳng và nhục nhã lúc này. Chỉ có mình nó đối diện với tâm trạng đó, thậm chí Fats cũng không hiểu được; Andrew không biết phải làm gì nữa.

XEM TIEP CHUONG http://truyenhiepsi.blogspot.com

Blog Truyện Hiệp Sĩ

truyenhiepsi

Truyện được sưu tầm chia sẻ trên các web miễn phí...

Tìm Kiếm Truyện

Theo dõi blog!

Nhận bài viết mới qua email. Chỉ cần nhập địa chỉ email của bạn dưới đây nếu bạn muốn đăng ký!