Tác giả: Dan Brown
--71--
Trong phòng chết của con tàu Charlotte, Rachel Sexton giới thiệu Michael Tolland và Corky Marlinson với Pickering. Sau đó cô tường thuật lại tất cả các sự kiện đã diễn ra trong ngày.
Giám đốc NRO ngồi bất động, nghe chăm chú.
Rachel kể về những sinh vật phù du phát sáng trong hố băng, về hành trình ra khỏi bán sinh quyển của họ, về quá trình phát hiện cột băng nước biển bên dưới tảng thiên thạch, cuối cùng là trận tấn công của một lực lượng mà cô tin chắc là đội đặc nhiệm.
William Pickering vốn có tiếng về khả năng lắng nghe những thông tin phức tạp một cách chăm chú và khách quan, ấy thế mà lần này ánh mắt của ông mỗi lúc một thêm băn khoán khi nghe những diễn tiến của câu chuyện. Rachel cảm nhận được thái độ hoài nghi, rồi đến sự phẫn nộ khi ông nghe cô kể về cái chết của Norah Mangor và tình huống thập tử nhất sinh của họ. Dù muốn buộc tội Giám đốc NASA ngay lập tức, cô hiểu Pickering sẽ không tin nếu không có chứng cớ rõ ràng. Nên cô chỉ vắn tắt và khách quan tường thuật lại các chi tiết. Rachel kể xong, Pickering vẫn ngồi bất động thêm vài giây nữa.
- Cô Sexton này, - cuối cùng ông lên tiếng - và cả hai vị nữa.
Ông lần lượt nhìn cả ba người.
- Nếu những sự kiện đó là thực, tôi không có lý do gì để nghĩ rằng các vị nói dối cả. Cả ba người đã quá may mắn được cứu thoát.
Họ yên lặng gật đầu. Tổng thống triệu tập bốn người khoa học dân sự, và hai trong số họ giờ đã không còn.
Pickering thở dài phiền muộn, như thế không biết phải nói gì tiếp. Những sự kiện đó rõ ràng là chưa nói lên gì nhiều.
- Liệu có khả năng cái lỗ khoan mà các vị nhìn thấy bên dưới tảng thiên thạch là hiện tượng tự nhiên không?
Rachel lắc đầu.
- Nó quá hoàn hảo. - Cô mở tấm ảnh chụp cắt lớp sũng nước ra rồi giơ lên trước camera. - Vô cùng hoàn hảo.
Pickering nhìn kỹ tấm ảnh, gật gù đồng ý. - Đừng để mất tấm ảnh này nhé.
- Tôi đã gọi cho Marjorie Tench và bảo bà ta cho hoãn cuộc họp báo lại, - Rachel nói - nhưng bà ta cương quyết không nghe.
- Tôi biết. Bà ta vừa gọi đến đây.
Rachel ngước nhìn lên, kinh ngạc. - Mariorie Tench đã gọi cho Giám đốc rồi cơ à? - Nhanh thật.
Vừa xong. Bà ta có vẻ lo lắng. Bà ta sợ là cô định bày trò bôi nhọ Tổng thống và NASA. Có lẽ để giúp cho cha cô.
Rachel đứng phắt dậy. Cô vẫy vẫy bức ảnh, chỉ hai nhà khoa học đang ngồi cạnh mình:
- Chúng tôi suýt nữa bị giết chết! Trông cảnh này có giống trò ma giáo để bôi xấu ai không? Tại sao tôi lại phải…
Pickering đưa tay lên ra hiệu:
- Bình tĩnh. Bà Tench không nói cho tôi biết là cô còn cùng với hai nhân vật nữa.
Rachel không nhớ nổi bà ta có cho cô cơ hội để nhắc đến Tolland và Corky hay không nữa.
- Bà ta cũng không nói với tôi là cô có bằng chứng trong tay. Pickering nói tiếp. - Trước khi nói chuyện với cô thì tôi cũng đã nghi ngờ lời nói của bà ta rồi, và giờ tôi tin chắc chắn là bà ta đã sai. Tôi không hề nghi ngờ lời nói của cô. Vấn đề bây giờ là điều này có nghĩa là gì.
Tất cả im lặng hồi lâu…
William Pickering thường chẳng bao giờ tỏ ra bối rối, thế mà lúc này đang đăm chiêu lắc đầu. - Cứ giả sử là có người đã cố tình đặt tảng thiên thạch vào trong lòng phiến băng. Dẫn đến câu hỏi không thể tránh được - mục đích của họ là gì. Nếu NASA có một tảng thiên thạch chứa các mẫu hoá thạch thì tại sao họ lại phải quan tâm đến thế về địa điểm phát hiện ra nó?
Có vẻ như Rachel nói, người ta đã đưa tảng đá vào trong lòng phiến băng để thiết bị PODS phát hiện được nó, và tảng thiên thạch có liên hệ với một hiện tượng được nhiều người biết đến.
- Sự kiện Jungersol Fall. - Corky nói thêm vào.
Nhưng giá trị của tảng thiên thạch này có liên quan gì đến địa điểm tìm ra nó đâu? - Pickering hỏi, trông như thể ông sắp phát điên đến nơi. - Chẳng phải các hoá thạch là phát kiến vĩ đại của mọi thời đại hay sao? Dù có liên quan đến hiện tượng sao băng hay không thì cũng có ảnh hưởng gì đâu?
Tất cả cùng gật gù.
Pickering do dự, trông rất buồn phiền. – Trừ phi.., dĩ nhiên là…
Rachel thấy những ý nghĩ đang vụt qua cái nhìn của Giám đốc. Ông đã tìm ra lời giải thích đơn giản nhất cho hành động cố tình đặt tảng thiên thạch vào giữa lòng phiến băng, nhưng đó cũng chính là giả thuyết rầy rà nhất.
- Trừ phi, - Pickering nói tiếp, - địa điểm được lựa chọn cẩn thận đến thế là để che giấu những dữ liệu giả mạo. - Ông thở dài, quay sang Corky - Thưa tiến sĩ Marlinson, liệu có khả năng tảng thiên thạch đó được làm giả không?
- Làm giả? Thưa ngài Giám đốc!
- Đúng thế. Đồ rởm. Do con người tạo ra.
- Một tảng thiên thạch giả sao? - Corky cười gượng gạo. - Không thể nào! Tảng thiên thạch đó đã được các chuyên, gia kiểm tra kỹ. Cả tôi nữa. Chụp cắt lớp, chụp quang phổ, xác định niên đại bằng phương pháp rubidium stronium. Nó không giống với bất kỳ tảng đá nào trên trái đất này. Đó là một tảng thiên thạch thật. Bất kỳ nhà khoa học vũ trụ nào cũng sẽ khẳng định như thế.
Pickering phân vân hồi lâu, tay mân mê cà vạt:
- Thế nhưng xét đến những cái mà NASA đạt được nhờ phát kiến này, những biểu hiện muốn tiêu huỷ chứng cứ và việc các vị bị tấn công… Kết luận logic đầu tiên mà tôi có thể nghĩ tới đó là tảng thiên thạch giả mạo được làm khéo léo.
- Không thể nào! - Corky lúc này đã phát cáu. - Tôi không hề có ý xúc phạm, thưa ngài Giám đốc, nhưng tảng thiên thạch này không thể giống một tác phẩm kỹ xảo như những bộ phim Hollywood, tạo ra chỉ để loè vài nhà nghiên cứu vũ trụ ngây thơ. Các tảng thiên thạch là những cấu trúc hoá học rất phức tạp với những kết cấu pha lê cùng những thành phần hoá học có một không hai!
- Tôi không có ý cật vấn ngài, thưa tiến sĩ Marlinson. Tôi chỉ đang lập luận theo logic mà thôi. Nếu không thì tại sao có kẻ lại muốn sát hại ngài để giữ kín việc tảng đá đã được đưa vào trong phiến băng từ bên dưới? Tôi thấy rất nhiều khả năng việc đó có thể xảy ra trong trường hợp này. Chính xác là chi tiết nào khiến ngài tin rằng tảng đá nằm sâu trong băng đó chính là một tảng thiên thạch?
- Chính xác à? - Giọng nói của Corky như đang rít lên. - Lớp vỏ ngoài bị nóng chảy, sự có mặt của các chondrul, và tỉ lệ chất nikel không giống với bất kỳ hòn đá nào trên trái đất. Nếu ngài muốn nói rằng có kẻ đã chế ra hòn đá này trong phòng thí nghiệm nào đó với mục đích lừa đảo thì xin thưa rằng phòng thí nghiệm đó chắc chắn phải có niên đại 190 triệu năm. - Corky lục túi áo và lôi ra mẫu đá trông giống chiếc đĩa CD. Ông ta giơ ra trước camera. - Có rất nhiều phương pháp hoá học cho phép xác định niên đại của những mẫu đá như thế này. Đặc biệt là phương pháp rubidium strodium thì không ai có thể giở trò lừa lọc được!
Pickering có vẻ ngạc nhiên:
- Ngài có một mẫu đá à?
Corky nhún vai:
- NASA có hàng chục mẫu thế này vứt vương vãi khắp nơi.
Như thế tức là, Pickering lại nói, lúc này quay sang nhìn Rachel - rằng NASA phát hiện một tảng thiên thạch có chứa hoá thạch sinh vật sống, và để cho mọi người tự do mang các mẫu đá đi khắp nơi hay sao?
- Vấn đề là ở chỗ, - Corky nói - mẫu đá trong tay tôi đích thực là của một tảng thiên thạch. - Ông ta giơ mẫu đá gần camera hơn nữa. - Ngài có thể đưa mẫu này cho bất kỳ nhà thạch học, nhà vũ trụ học, hay nhà địa chất học nào, họ sẽ tiến hành kiểm tra, và sẽ đều rút ra hai kết luận. Một là, nó có niên đại 190 triệu năm. Hai là, nó có thành phần hoá học khác với bất kỳ loại đá nào trên hành tinh của chúng ta.
Pickering nhoài người về phía trước để nhìn thật kỹ mẫu đá.
Dường như hơi kinh ngạc Rồi ông ta thở dài:
- Tôi không phải là nhà khoa học. Tôi chỉ biết rằng nếu tảng thiên thạch đó là thật, mà có vẻ là thế thật thì tại sao NASA không đem nó ra giữa thanh thiên bạch nhật? Tại sao có người lại cố tình đặt nó vào trong lòng phiến băng rồi đi thuyết phục để mọi người tin vào tính xác thực của nó?
Đúng lúc ấy, tại Nhà Trắng, một nhân viên anh ninh đang quay số văn phòng của Marjorie Tench.
Ngay sau hồi chuông đầu tiên, bà trợ lý cấp cao nhấc máy ngay.
- Tôi nghe.
- Thưa bà Tench, - nhân viên an ninh nói - tôi đã tìm được thông tin bà đang cần. Cú điện thoại bằng đường dây thông thường mà Rachel Sexton gọi cho bà ban nãy. Chúng ta đã xác định được điểm gọi đi.
- Nói đi.
Bên mật vụ báo rằng tín hiệu được phát đi từ tàu ngầm Charlotte của Hải quân Hoa Kỳ ạ.
- Cái gì?
Họ không có được toạ độ, thưa bà, nhưng họ biết chắc tần số sóng vô tuyến của con tàu đó.
- Ôi! Lạy Chúa tôi! - Tench dập mạnh ống nghe, không nói thêm lời nào.
--72--
Trong căn phòng cách âm tuyệt đối trên tàu ngầm Charlotte Rachel bắt đầu thấy hơi buồn nôn. Trên màn hình, cặp mắt đầy băn khoăn của William Pickering hướng về phía Michael Tolland.
- Sao yên lặng thế, anh Tolland?
Tolland ngước nhìn lên, cử chỉ giống hệt một sinh viên bất ngờ bị thầy giáo gọi tên.
- Thưa ngài?
- Anh vừa sản xuất một đoạn phim tài liệu vô cùng thuyết phục. - Pickering nói. - Lúc này quan điểm của anh về tảng thiên thạch là thế nào?
- Thưa ngài Giám đốc, - Tolland nói, vẻ không thoải mái - tôi cũng buộc phải đồng ý với tiến sĩ Marlinson. Tôi tin rằng những mẫu hoá thạch và tảng thiên thạch là thật. Tôi cũng khá thông thạo các phương pháp xác định niên đại, và tuổi của tảng đá ấy đã được khẳng định bởi nhiều phép thử khác nhau. Cả tỉ lệ nickel nữa. Những dữ liệu ấy không thể giả mạo được. Một điều chắc chắn là tảng đá đó đã hình thành cách đây một trăm chín mươi triệu năm, nó có tỉ lệ nickel khác với các loại đá trên trái đất, và những mẫu hoá thạch bên trong tảng đá cũng hình thành cách đây một trăm chín mươi triệu năm. Tôi nghĩ không thể có cách giải thích nào khác có lẽ NASA đã tìm thấy tảng thiên thạch thật.
Lúc này Pickering ngồi trầm ngâm. Vẻ mặt ông đầy băn khoăn, một sắc thái mà Rachel chưa từng thấy có ở William Pickering.
- Bây giờ ta làm gì, thưa Giám đốc? - Rachel hỏi. - Chắc chắn phải báo ngay cho Tổng thống biết rằng những dữ liệu này có vấn đề.
Pickering nhíu mày.
- Hy vọng là Tổng thống vẫn chưa biết gì cả.
Rachel thấy lòng quặn thắt. Hàm ý của Pickering đã quá rõ.
Tổng thống Herney có thể có dính líu. Rachel nghi ngờ điều này, nhưng phải thừa nhận rằng trong vụ này, cả Tổng thống và NASA đều được hưởng lợi.
- Rủi thay. - Pickering nói. - Chỉ có mỗi bức ảnh chụp cắt lớp bằng sóng siêu âm cho thấy một trục đá nước mặn ở bên dưới tảng thiên thạch. Tất cả những dữ liệu khoa học khác đều cho thấy NASA đã có một phát kiến vô cùng ngoạn mục. - Ông ngừng một lát, vẻ trầm trọng. - Và còn chuyện nhóm các vị bị tấn công… - Ông ngước lên nhìn Rachel. - Cô nhắc đến đội đặc nhiệm phải không nhỉ?
- Vâng, thưa Giám đốc. - Rachel một lần nữa kể lại cho ông nghe về loại đạn ngẫu tác.
Càng lúc vẻ mặt Pickering càng khổ sở. Rachel biết sếp của cô đang điểm tên những nhân vật có quyền điều khiển đội đặc nhiệm.
Dĩ nhiên Tổng thống có quyền đó. Cả Marjorie Tench nữa, trên cương vị cố vấn. Rất có thể cả Giám đốc NASA Lawrence Ekstrom, với những mối quan hệ của ông ta trong Lầu Năm Góc. Rachel xem xét rất nhiều khả năng, và nhận ra rằng thế lực đứng đằng sau vụ tấn công ấy có thể là bất kỳ kẻ nào có địa vị cao và những mối quan hệ cần thiết.
- Tôi có thể gọi điện cho Tổng thống ngay bây giờ -Pickering nói - nhưng như thế là thiếu khôn ngoan, ít nhất đến khi chúng ta biết được kẻ nào dính líu vào vụ này. Nếu Nhà Trắng cũng có liên quan thì tôi ít có khả năng bảo vệ an toàn được cho cô. Thêm vào đó cũng chẳng biết phải nói gì với ông ấy. Nếu tảng thiên thạch là thật mà các vị đều cảm nhận thế, thì thông tin về khả năng nó được đưa từ dưới lên chẳng có ý nghĩa gì. Chắc chắn Tổng thống sẽ đặt dấu hỏi liệu những điều tôi nói có xác thực không? - Ông ngưng một lát như thế đang cân nhắc. - Sự thật có là thế nào chăng nữa, kẻ đó là ai chăng nữa, thì một số nhân vật rất quyền thế sẽ bị tổn thương, nếu tin này được công bố ra. Tôi cho rằng phải đưa các vị đến một địa điểm an toàn ngay lập tức trước khi chúng ta có bất kỳ động thái nào.
- Đưa chúng tôi đến một địa điểm an toàn ư? - Rachel ngạc nhiên.
- Thưa Giám đốc, tôi tưởng một tàu ngầm mang đầu đạn hạt nhân thế này đã là an toàn rồi?
Ánh mắt Pickering đầy hoài nghi:
- Sự có mặt của ba người trên con tàu ấy không giữ bí mật được lâu đâu. Tôi sẽ đưa các vị ra khỏi đó ngay lập tức. Thật thà mà nói, tôi sẽ an tâm hơn nhiều nếu lúc này các vị đang ngồi trong phòng làm việc của tôi.
--73--
Nằm co quắp trên giường, Thượng nghị sĩ Sexton muốn trốn khỏi thực tại.
Căn hộ tại khu Westbrooke của ông, mới cách đây một giờ còn rộn tiếng nói cười, còn tràn ngập tươi vui, còn đầy những người bạn mới, vậy mà giờ thật vắng lặng, tung toé mảnh ly vỡ, danh thiếp vương vãi khắp nơi, bởi các vị khách của ông đã lao ra khỏi căn phòng này theo đúng nghĩa đen của nó.
Giờ đây, Sexton đơn độc nằm co bên chiếc tivi. Ông muốn tắt chiếc máy đi, nhưng lại không thể không nghe những lời bình luận đang được phát trên khắp các kênh. Trên đất Washington này, các bình luận viên dễ dàng bóc tách lớp vỏ khoa học và triết lý giả hiệu lỏng lẻo được sơn vẽ xung quanh sự kiện này để tiếp cận bản chất xấu xa của nó - chính trị. Các phát thanh viên cứ thay nhau nhắc đi nhắc lại sự thật quá hiển nhiên đó, và cứ xát muối mãi lên vết thương đang há miệng của Thượng nghị sĩ.
- Mới vài giờ trước, Thượng nghị sĩ Sexton còn đang lên như diều. - Một nhà phân tích nói, - Giờ đây, phát kiến của NASA đã kéo ứng cử viên đối lập này xuống tận đất đen.
Sexton nhăn mặt, với tay lấy chai rượu Courvoisier, rồi tu một ngụm.
Ông biết đêm nay sẽ là đêm cô đơn nhất, lê thê nhất trong đời. Ông nguyền rủa Marjorie Tench đã gài bẫy ông. Ông nguyền rủa Gabrielle Ashe đã khơi ra để tài NASA. Ông khinh ghét Tổng thống vì đã quá may mắn. Và ông khinh ghét cả thế gian vì dám cười nhạo ông.
Rõ ràng đây là đòn chí mạng đối với ngài Thượng nghị sĩ.
Nhà bình luận đó lại nói tiếp.
- Với phát kiến này. Tổng thống và NASA vừa có một thành tựu lẫy lừng. Những thông tin kiểu này sẽ mang lại cho Tổng thống thế và lực mới, bất kể Thượng nghị sĩ có thể hiện thái độ như thế nào đối với NASA. Đó là chưa kể chiều nay, Thượng nghị sĩ còn lớn tiếng tuyên bố sẽ giải thể NASA nếu cần có thể nói rằng buổi họp báo vừa rồi của Tổng thống là một đòn đúp, và Thượng nghị sĩ sẽ không thể gượng dậy nổi.
Mình bị gài bẫy, Sexton tự nhủ. Lũ chó đó gài bẫy mình.
Lúc này, nhà phân tích vừa nói vừa cười rất tươi:
- Sau tất cả những điều tiếng gần đây, NASA đã lấy lại được lòng tin của người Mỹ. Ngoài đường phố lúc này đang tràn ngập tinh thần ái quốc và lòng tự hào dân tộc. Như một lẽ dĩ nhiên, dù vẫn yêu quý Zach Herney, dân chúng đã có lúc mất lòng tin vào Tổng thống. Phải thừa nhận rằng trong thời gian qua Tổng thống đã bị công kích khá nặng nề, nhưng rồi ông đã đứng dậy, ngẩng cao đầu và toả sáng.
Sexton nhớ lại cuộc tranh luận lúc chiều trên kênh CNN và thấy lòng quặn thắt. Trong suốt những tháng vừa qua, sự trì trệ của NASA cứ dần dần trở nên trầm trọng hơn, rồi tình trạng đó không những đột ngột dừng phắt lại, mà còn trở thành một cái gông đeo cứng vào cổ ông. Lúc này, ông nào có khác gì một thằng đần. Nhà Trắng đã trơ tráo chơi ông một đòn đểu giả. Từ giờ phút này, ông đã bắt đầu thấy sợ những tranh biếm hoạ sẽ xuất hiện trên các trang báo sáng mai. Tên tuổi ông sẽ trở thành đề tài đàm tiếu của khắp bàn dân thiên hạ. Tất nhiên sẽ chẳng còn khoản tiền hiến tặng bí mật của quỹ SFF nữa. Mọi thứ đều đổi khác. Tất cả những vị khách lúc nãy có mặt trong căn phòng này đều đã chứng kiến những giấc mơ của họ tan thành mây khói. Cỗ xe tư hữu hoá ngành công nghiệp vũ trụ vừa đâm phải một bức tường đá.
Nhấp ngụm Cognac nữa, Thượng nghị sĩ đứng dậy và đến bên bàn. Ông nhìn chiếc điện thoại đã, bị ngắt dây. Tự biết đó chẳng qua là một hình thức tự hành hạ bản thân tàn bạo, ông chậm chạp cắm dây vào, rồi bắt đầu đếm từng giây.
- Một…, hai…Chuông reo. Ông để máy tự động trả lời.
- Thưa Thượng nghị sĩ Sexton, tôi là Judy Oliver, đài CNN. Tôi muốn dành cho ngài một cơ hội để thể hiện phản ứng của ngài về phát kiến của NASA ngay tối nay. Xin ngài hãy gọi lại cho tôi.
Máy ngắt.
Sexton lại tiếp tục đếm. Một… Chuông lại đổ. Ông mặc kệ, để cho máy tự động trả lời một lần nữa. Lại là một nhà báo.
Tay cầm chai rượu Courvoisier, Sexton tiến về phía cánh cửa dẫn ra ngoài ban công. Ông kéo cánh cửa trượt sang một bên và bước ra ngoài trời đêm mát rượi. Tì người vào ban công, ông trân trối nhìn khắp thành phố, nhìn đến tận mặt tiền sáng rực của Nhà Trắng phía xa. Những ánh đèn lung linh như đang cười giỡn với gió đêm.
- Khốn nạn, ông thầm nghĩ. Bao thế kỷ nay loài người vẫn ra sức tìm kiếm sự sống trong vũ trụ. Và rồi lại tìm thấy đúng vào năm mình tranh cử. Đấng tạo hoá thật chẳng lấy gì làm sáng suốt cả.
Trong từng khung cửa sổ, ông đều nhìn thấy có tivi. Ông băn khoăn không hiểu tối nay Gabrielle Ashe đang ở đâu: Đây chính là lỗi của cô ta. Chính cô ta đã đưa tin cho ông về hết thất bại này đến thất bại khác của NASA.
Ông giơ chai rượu lên, tợp một ngụm nữa.
Gabrielle chết dẫm…, vì cô ta mà mình bây giờ ra nông nỗi này đây.
Ở đầu kia của thành phố, giữa phòng sản xuất náo nhiệt của đài ABC, Gabrielle Ashe thấy toàn thân giá buốt. Buổi họp báo của Tổng thống đã kết thúc, để lại cô sững sờ trong hoang mang, bấn loạn. Cô đứng đó, chôn chân giữa phòng sản xuất, mắt dán chặt vào một màn hình tivi, mặc cho những huyên náo, tất bật vẫn tiếp tục diễn ra quanh mình.
Những lời tuyên bố đầu tiên của Tổng thống đã khiến cho cả phòng sản xuất lặng phắc. Chỉ thoáng chốc sau, tất cả các phát thanh viên trong phòng bắt đầu tất bật vào việc. Họ là những người rất chuyên nghiệp. Họ không có thời gian cho tình cảm cá nhân. Khi nào xong việc họ mới có thì giờ cho thứ đó. Vào thời điểm này, cả thế giới muốn có thêm thông tin, và ABC cần phải thoả mãn nhu cầu đó. Sự kiện này hội đủ mọi yếu tố - khoa học, lịch sử, và kịch tính trên chính trường - và sẽ gây nhiều xúc động.
Không nhân viên nào của ngành công nghiệp truyền thông lại có thể ngủ trong một đêm như thế này.
- Gab? - Giọng Yolanda đầy cảm thông. - Để chị đưa em về phòng của chị trước khi có người kịp nhận ra em và hành hạ em bằng những câu hỏi về chiến dịch tranh cử của Thượng nghị sĩ Sexton.
Gabrielle để cho Yolanda dẫn cô qua cả một biển sương mù, đến căn phòng tường kính của chị. Yolanda bảo cô ngồi xuống, rồi đưa cho Gabrielle một ly nước. Chị cố mỉm cười:
- Hãy nhìn tình hình bằng con mắt lạc quan, Gab ạ. Chiến dịch tranh cử của Thượng nghị sĩ thế là đi đời, nhưng em thì không sao hết. Ít ra là thế.
- Vâng. Thật kinh khủng.
Giọng Yolanda chuyển sang nghiêm trang:
- Gabrielle này, chị biết em đang rất khổ sở. Ngài ứng cử viên của em vừa bị một đòn chí mạng. Nếu em muốn nghe, dù xin nói là ông ta không thể gượng dậy được đâu. Ít ra là không đủ thời gian để xoay chuyển tình thế trước khi sự đã rồi. Nhưng ít ra thì trên tivi không ai đả động gì đến tên em cả. Nghiêm túc mà nói nhé. Đó là tin tốt lành đấy. Bây giờ Herney chẳng cần đến một vụ scandal nào về sex làm gì nữa. Ông ta giờ đã quá gần chiếc ghế Tổng thống, nên không thể đụng đến vấn đề nhỏ mọn này nữa được đâu.
Lời an ủi này chẳng có tác dụng gì mấy đối với Gabrielle.
- Còn về việc bà Tench buộc tội ngài Thượng nghị sĩ nhận hối lộ thì… - Yolanda lắc đầu - chị không tin, em ạ. Phải thừa nhận là Herney tỏ ra kiên định về chuyện tranh cử một cách tích cực. Cũng phải thừa nhận là cuộc điều tra về hành động nhận hối lộ sẽ tác động xấu đến khí thế của cả nước: Điều chị băn khoăn là liệu Herney có yêu nước đến nỗi bỏ qua cơ hội nghiền nát đối thủ của nmnh hay không, nếu chỉ để bảo vệ tinh thần dân tộc? Chị đoán là bà Tench đưa ra chuyện này chỉ để hù doạ mà thôi. Bà ta nhử đòn, biết đâu em sợ quá mà mất khôn và biếu không cho Tổng thống một vụ scandal về tình dục: Và chính em cũng phải thừa nhận rằng đêm nay chính là thời điểm để đặt câu hỏi về đạo đức của Thượng nghị sĩ Sexton!
Gabrielle gật đầu một cách yếu ớt. Thêm một vụ tai tiếng về sex nữa thì sự nghiệp của Thượng nghị sĩ quả là không gì cứu vãn nổi… Không bao giờ.
- Em đã thắng bà ta. Marjorie Tench định lập lờ đánh lận con đen, nhưng em không cắn câu. Em chẳng làm sao cả. Còn có rất nhiều chiến dịch tranh cử khác.
Gabrielle lại yếu ớt gật đầu, không biết nên tin tưởng vào cái gì nữa…
- Em cũng phải thừa nhận là, - Yolanda nói tiếp - Nhà Trắng đã đánh bại Sexton một cách ngoạn mục - lừa cho ông ấy sa lầy vào đề tài NASA, lừa cho ông ấy phải nói trắng hết ra, rồi đặt tất cả các quân chủ bài trong tay vào cái bẫy giăng sẵn đó.
- Hoàn toàn do lỗi của mình, Gabrielle thầm nghĩ.
- Và lạy Chúa, bản tuyên bố mà chị em mình vừa xem xong quả là tuyệt hảo! Chưa kể đến tầm quan trọng của phát kiến này, chỉ riêng khâu sản xuất thôi cũng quá ngoạn mục. Truyền hình trực tiếp từ Bắc Cực này, đoạn phim tài liệu của Michael Tolland này! Chúa ơi, làm sao em cạnh tranh nổi với ông ta cơ chứ? Tối nay Zach Herney đã ghi điểm tuyệt đối. Phải có lý do thì ông ấy mới là Tổng thống của chúng ta chứ? Và sẽ ở vị trí ấy thêm bốn năm nữa… Chị phải quay lại làm việc đây, Gab. - Yolanda nói. - Em thích ngồi đây bao lâu cũng được. Hãy bình tĩnh lại.
Yolanda quay ra cửa.
- Em bé này, vài phút nữa chị sẽ quay lại đấy.
Còn lại một mình. Gabrielle nhấp một ngụm nước, nhưng cảm thấy miệng đắng ngắt. Mọi thứ đều đáng ngắt. Hoàn toàn do lỗi của mlnh, cô thầm nghĩ. Gabrielle cố lấy lại sự thanh thản bằng cách nhớ lại tất cả những buổi họp báo sầu thảm của NASA trong những năm qua - dự án sân bay vũ trụ bị chậm tiến độ, dự án X-33 bị trì hoãn, những tàu thám hiểm sao Thuỷ bị thất bại, những lần thâm thủng ngân sách liên tiếp. Gabrielle băn khoăn tự hỏi liệu cô có thể hành động khác đi được hay không.
Không thể, cô tự bảo mình. Mình đã hành động hoàn toàn đúng.
Chỉ có điều những hành động ấy đã quật lại chính cô.
--74--
Phi cơ trực thăng Ó Biển của Hải quân đang tham gia cuộc tập trận bí mật tại căn cứ không quân Thule đặt trên đảo Greenland.
Nó đang bay ở tầm thấp, tránh tầm quét của radar, và ngược luồng gió mạnh đang thổi với tốc độ bảy mươi dặm một giờ giữa đại dương. Thi hành mệnh lệnh mới được giao, người phi công bay ngược gió, rồi lượn tròn tại toạ độ được định sẵn trên biển.
Điểm hẹn là chỗ nào đây? - Người phi công số hai kêu to, vẻ lúng túng. Họ được lệnh điều một máy bay trực thăng và dây tời cứu hộ nên cả hai phi công phán đoán rằng họ sắp thực hiện nhiệm vụ tìm-kiếm-và-giải-cứu. - Cậu có chắc chắn là toạ độ này không đấy? Anh ta dùng đèn pha quét khắp vùng biển đang nổi sóng, nhưng chẳng nhìn thấy gì trừ…
- Mẹ khỉ! - Người phi công kéo cần, chiếc máy bay nảy xóc, bay hẳn lên cao.
Ngay sát mũi họ, một núi sắt sừng sũng hiện ra không một tín hiệu báo trước. Chiếc tàu ngầm khổng lồ vừa vứt bỏ đồ dùng và đang nhô dần lên giữa vô vàn bọt nước cuộn xoáy.
Hai phi công nhìn nhau cười.
- Chắc họ đấy.
Theo đúng lệnh được giao, điệp vụ diễn ra trong im lặng tuyệt đối về sóng radio. Một cánh cửa đôi mở ra trên đỉnh cột buồm của con tàu, và một thuỷ thủ dùng đèn nháy để ra hiệu. Chiếc máy bay lượn xung quanh con tàu và thả xuống ba bộ móc kéo cứu hộ gồm những cái thòng lọng đệm cao su và những sợi cáp. Chưa đầy một phút sau, ba người được móc vào các móc kéo cứu hộ đã đung đưa bên dưới thân máy bay, rồi được kéo dần lên cao trong những luồng gió giật mạnh do cánh quạt của máy bay tạo ra.
Rồi người phi công số hai kéo cả ba người vào trong máy bay hai người đàn ông, một người đàn bà. Xong xuôi, anh dùng đèn nháy ra hiệu "xong hết" với tàu ngầm. Trong vòng vài giây, con tàu to lớn biến mất khỏi mặt biển lộng gió, không để lại chút dấu vết, nào về sự xuất hiện của nó.
Đưa ba vị khách lên máy bay an toàn xong, người phi công chúi mũi máy bay xuống, quay về hướng nam, tăng tốc để hoàn thành điệp vụ. Trời sắp nổi giông bão, và ba vị khách này cần được đưa về căn cứ không quân Thule thật an toàn để còn bay tiếp. Anh không biết họ sẽ bay về đâu. Chỉ biết rằng một nhân vật rất cao cấp đã trực tiếp ra lệnh, nhấn đi nhấn lại rẳng anh đang vận chuyển một "chuyến hàng" quan trọng.
--75--
Cơn bão cuối cùng cũng nổi lên trên phiến băng Milne, phô trương sức huỷ diệt khủng khiếp của nó trước ngôi nhà bán sinh quyển của NASA, khiến ngôi nhà rung lên từng đợt như thể sắp bị giật tung khỏi mặt băng và kéo phăng ra ngoài biển. Dây trại bằng thép bị kéo căng như dây đàn, phát ra những tiếng ren rĩ thê lương. Máy phát điện đặt ngoài trời cũng ậm ạch, khiển đèn điện nháy liên tục, để doạ nhấn chìm cả ngôi nhà trong bóng đêm thăm thẳm.
Lawrence Ekstrom, Giám đốc NASA sải bước trong bán sinh quyển, lòng thầm ước đêm nay ông có thể thoát khỏi nơi quỷ quái này, dĩ nhiên đó là điều không thể. Ông còn phải ở đây thêm một ngày nữa, để sáng mai tổ chức họp báo tại chỗ, và để giám sát việc đưa tảng thiên thạch về Washington. Lúc này ông chỉ ước gì được ngủ một giấc thật sự, những sự kiện ngoài dự kiến ngày hôm nay đã khiến sức lực ông cạn kiệt.
Tuy nhiên, tâm trí ông lại quay về với Wailee Ming. Rachel Sexton, Corky Marlinson. Norah Mangor, và Michael Tolland. Vài nhân viên của NASA đã bắt đầu nhận thấy sự vắng bóng của các nhà khoa học dân sự này.
Bình tĩnh nào, Ekstrom tự nhủ. Tất cả vẫn ở trong tầm kiểm soát mà.
Ông hít thật sâu, tự nhắc nình rằng khắp nơi trên thế giới người ta đang ca ngợi NASA và trở nên háo hức với để tài vũ trụ.
Chưa bao giờ để tài sự sống ngoài trái đất lại trở nên nóng hổi đến thế kể từ "sự kiện Roswell" nổi tiếng vào năm 1947. Người ta tin rằng một vật thể bay ngoài hành tinh đã gặp tai nạn tại Roswell, Mexico. Và ngày nay, địa điểm này vẫn đang là đất thiêng của hàng triệu người say sưa với đề tài UFO.
Trong những năm tháng còn làm việc tại Lầu Năm Góc, Ekstrom biết rằng "sự kiện Roswell" chẳng qua là một tai nạn trong chiến dịch tuyệt mật Dự án Mogul. Một quả khinh khí cầu do thám thiết kế riêng cho việc nghe lén các cuộc thử hạt nhân của Nga lúc đó đang được bay thử. Mô hình mẫu đã chẳng may chệch khỏi đường bay và rơi xuống sa mạc New Mexico. Không may, một dân thường đã nhìn thấy đống đổ nát đó trước khi các nhân viên của Bộ Quốc phòng kịp đến nơi.
William Brazel, ông chủ trại cừu ngờ nghệch đã bắt gặp cả một bãi những mảnh vụn gom những vật liệu siêu nhẹ tổng hợp khác hẳn với tất cả những gì ông ta đã tùng nhìn thấy trong đời. Ngay lập tức cảnh sát cũng nhận được thông báo. Báo chí đưa tin về vụ tai nạn kỳ lạ, và công chứng bắt đầu tò mò. Càng tò mò hơn saủ khi Bộ Quốc phòng phủ nhận bất cứ dính líu nào đến tai nạn đó, Cánh nhà báo bắt đầu mở cuộc điều tra, và Dự án Mogul có nguy cớ bị bại lộ. Đúng vào thời điểm thông tin nhạy cảm về khinh khí cầu do thám đó sắp bị phơi bày trên các trang báo, một điều kỳ diệu đã xảy ra.
Các phương tiện thông tin đại chúng bất ngờ đưa ra một kết luận hi hữu. Họ cho rằng những mảnh vỡ của loại vật liệu chưa có trên trái đất chắc chắn bắt nguồn từ trong vũ trụ - được chế tạo bởi những sinh vật có trình độ khoa học kỹ thuật phát triển hơn hẳn loài người. Việc quân đội chối hết mọi dính líu đến sự kiện đó chỉ có thể bắt nguồn từ một lý do duy nhất - để che giấu những vụ tiếp xúc bí mật với người ngoài hành tinh! Dù chính họ cũng bị choáng trước cách suy dien đó, lực lượng không quân đã hồ hởi đón nhận nó như một thứ của trời cho. Họ lập tức túm chặt câu chuyện người ngoài hành tinh đó, và thậm chí còn thêm mắm thêm muối vào cho mùi mẫn. Nếu cả thế giới có nghĩ rằng người ngoài hành tinh thỉnh thoảng ghé thăm sa mạc New Mexico thì chẳng phương hại gì đến an ninh quốc gia, nhưng nếu để người Nga đánh hơi được Dự án Mogul thì chí nguy.
Để thêu dệt thêm tình tiết cho câu chuyện người ngoài hành tinh, bộ phận an ninh đã phủ một bức màn bí ẩn lên "sự kiện Roswell" và bắt đầu sắp xếp các vụ "rò rỉ thông tin an ninh" - những lời xì xào về các cuộc tiếp xúc với người ngoài hành tinh, những con tàu của người vũ trụ, thậm chí cả "Nhà chứa máy bay số 18" bí ẩn tại căn cứ quân không quân Wright-Patterson ở Dayton, nơi Chính phủ cất giữ xác người ngoài hành tinh trong các thùng đá lớn. Cả thế giới tin câu chuyện bịa đặt đó, và Roswell trở thành cơn sốt khắp địa cầu. Từ đó trở đi, mỗi khi có người nào vô tình nhìn thấy chiếc máy bay đời mới nào đó của quân đội Mỹ, cánh tình báo chỉ cần cùng nhau giữ im lặng, thế là xong.
Đó đâu phải là máy bay, đĩa bay của người ngoài hành tinh đấy chứ!
Ekstrom rất ngạc nhiên thấy trò dối trá đơn giản đó vẫn còn hiệu lực đến tận ngày nay. Mỗi lần các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin rằng có người vừa nhìn thấy một vật thể bay lạ là ông lại không thể nhịn được cười. Rất có khả năng kẻ may mắn đó vừa thoáng nhìn thấy loại máy bay tối tân của NRO - bảy mươi lăm chiếc máy bay do thám siêu tốc không trang bị vũ khí mang tên Global Hawk, hình thuôn, được điều khiển từ xa, trông chúng khác hẳn bất cứ loại máy bay nào khác hiện có.
Ekstrom cũng thường không nhịn cười nổi khi nghĩ đến hàng triệu du khách mỗi năm vẫn hành hương đến sa mạc New Mexico, mang theo camera cá nhân để quay cảnh bầu trời xứ này.
Thỉnh thoảng có người may mắn chộp được "bằng chứng cứng" về một UFO - những đốm sáng lao vụt qua bầu trời với tốc độ cao hơn bất kỳ thiết bị bay thông thường nào do con người chế tạo được. Tất nhiên, những người đó không thể biết rằng có một khoảng cách mười hai năm giữa những gì Chính phủ có thể chế tạo được và những gì công chúng được biết đến. Những người nhìn thấy UFO đó chẳng qua đã nhìn thấy một thế hệ máy bay mới nhất của Hoa Kỳ được chế tạo thử nghiệm tại Khu 51 - rất nhiều mô hình trong số đó là sản phẩm sáng tạo của NASA. Dĩ nhiên là giới tình báo không bao giờ đính chính sự hiểu lầm đó.
Sẽ có lợi hơn nhiều nếu cả thế giới tin rằng lại có thêm một người nhìn thấy vật thể bay lạ, thay vì biết được những khả năng thật sự của không lực Hoa Kỳ.
Nhưng từ giờ mọi thứ sẽ khác, Ekstrom thầm nghĩ. Vài giờ đồng hồ nữa thôi, huyền thoại về sự sống ngoài hành tinh sẽ trở thành một sự thật được khẳng định chắc chắn. Mãi mãi là thế.
- Thưa Giám đốc. - Một kỹ thuật viên của NASA hối hả bước đến bên ông. - Giám đốc có một cuộc gọi khẩn trong buồng máy PSC.
Ekstrom thở dài quay lại. Lại là chuyện gì nữa không biết? Ông tiến về phía đặt thiết bị liên lạc.
Kỹ thuật viên hấp tấp bước theo.
- Nhân viên phụ trách radar trong buồng liên lạc đang rất tò mò, thưa Giám đốc…
- Hả? - Tâm trí Ekstrom vẫn đang ở tận đâu đâu.
Một chiếc tàu ngầm rất lớn hiện có mặt ở đây. Sao Giám đốc không nói gì cho chúng tôi biết?
Ekstrom ngước nhìn lên:
- Cậu nói gì cơ?
Chiếc tàu ngầm, thưaa Giám đốc. Ít ra thì Giám đốc cũng nên nói cho anh chàng phụ trách radar biết chứ. Có thêm tàu ngầm bảo vệ vùng thềm lục địa thì cũng tốt thôi, nhưng nhân viên radar của chúng ta không được báo trước để chuẩn bị tinh thần.
Ekstrom dừng phắt lại:
- Tàu ngầm nào?
Lúc này cả kỹ thuật viên cũng dừng phắt lại, không ngờ Giám đốc lại ngạc nhiên đến thế.
- Chẳng lẽ con tàu đó không tham gia vào điệp vụ của chúng ta hay sao?
Không hề! Nó ở đâu?
Anh chàng kỹ thuật viên nuốt khan:
- Cách chúng ta khoảng ba dặm. Nó chỉ nổi lên trong vòng hai phút. Thân tàu khá to. Chắc là tàu lớn. Chúng tôi cứ tưởng Giám đốc yêu cầu bên Hải quân hỗ trợ an ninh cho chúng ta nhưng không thông báo cho chúng tôi.
Ekstrom trợn tròn mắt:
- Tôi có yêu cầu gì đâu!
Giọng chàng trai bắt đầu run run:
- Nếu thế thì tôi xin báo cáo với Giám đốc là một chiếc tàu ngầm vừa tiếp xúc một chiếc máy bay trực thăng ở vùng bờ biển ngay gần chúng ta. Có vẻ như là trao đổi nhân sự thì phải. Quả thực, chúng tôi hơi ngạc nhiên vì giữa điều kiện thời tiết này mà có người dám mạo hiểm trao đổi người kiểu đó.
Ekstrom thấy thân thể như đông cứng lại. Không hiểu tàu ngầm làm cái quái gì ngay gần hòn đảo Ellesmere mà mình lại không biết nhỉ.
- Các anh có biết sau khi trao đổi người thì chiếc máy bay bay theo hướng nào không?
- Về căn cứ không quân Thule. Tôi đoán là để đổi máy bay và bay vào đất liền.
Tiếp tục tiến về phòng thiết bị thông tin, Ekstrom không nói thêm gì nữa. Vào trong phòng, ông nghe thấy giọng nói the thé vang lên, quen thuộc.
- Lại có vấn đề nữa đây. - Tench vừa ho sù sụ vừa nói. - Liên quan đến Rachel Sexton.
--76--
Đến khi nghe có tiếng đập thình thình, Thượng nghị sĩ Sexton không nhớ nổi mình đã đứng nhìn trời được bao lâu. Nhận ra những tiếng đập đó không phải là tác dụng của rượu mạnh trong não bộ mà là tiếng đập cửa, ông liền vứt cái chai rỗng vào một góc phòng, tiến ra cửa.
- Ai đấy? - Ông hỏi to, không chút thân thiện.
Người vệ sĩ của Thượng nghị sĩ nói to tên một vị khách. Ngay lập tức Sexton đứng thẳng người, ông đâu có mời vị khách này đến nhà. Nhanh thật. Ước gì sáng maị ông mới phải gặp mặt ông ta cơ mà.
Hít một hơi thật sâu, vuốt phẳng quần áo, Sexton mở cửa. Một khuôn mặt rất quen thuộc hiện ra - rắn rỏi, cương nghị, dù ông ta đã hơn bảy mươi tuổi. Mới sáng nay Sexton vừa gặp ông ta trong chiếc xe tải cỡ nhỏ tại bãi đỗ xe ngầm của một khách sạn cơ mà. Không lẽ bây giờ vẫn là buổi sáng? Sexton băn khoăn. Lạy Chúa, từ đó đến giờ mọi sự đã đổi khác quá nhanh.
- Tôi vào được chứ? - Ông già tóc đen hỏi.
Sexton đứng tránh sang một bên, nhường lối cho Chủ tịch Hiệp hội Vũ trụ bước vào.
- Cuộc họp diễn ra suôn sẻ chứ? - Ông ta hỏi ngay khi Sexton chưa đóng xong cửa.
Có suôn sẻ hay không ư? Sexton thầm băn khoăn không hiểu lão già này có sống trong hang động hay không.
- Mọi thứ đều rất tuyệt cho đến khi Tổng thống xuất hiện trên tivi.
Ông già gật đầu, vẻ không hài lòng.
- Ừ, quả là thắng lợi không thể ngờ. Nó sẽ gây tổn thất lớn cho công cuộc của chúng ta.
Gây tổn thất cho công cuộc thôi ư? Ông ta quả là lạc quan. Sau thắng lợi đêm nay của NASA thì lão sẽ chết trước khi Hiệp hội Vũ trụ đạt được mục tiêu tư hữu hoá của họ.
- Suốt bao năm nay tôi đã tin là sẽ tìm được bằng chứng. - Ông già nói. - Tôi không thể biết sẽ vào lúc nào và bằng cách nào, nhưng sớm muộn gì thì chúng ta cũng sẽ được biết một cách chắc chắn.
Sexton choáng váng.
- Ông không thấy ngạc nhiên ư? Những số liệu toán học khẳng định rằng trong vũ trụ phải tồn tại các dạng sống khác nữa. - Ông ta đáp, tiến vào phòng riêng của Sexton. - Tôi không hề bất ngờ khi người ta phát hiện ra điều đó. Về mặt học thuật, tôi rất xúc động. Về mặt tâm linh, tôi rất kính sợ Chúa trời. Về mặt chính trị, tôi lo ngại sâu sắc: Thời điểm của phát kiến này quả là không thể tồi tệ hơn được.
Sexton băn khoăn không hiểu ông ta đến nhà mình với mục đích gì. Chắc chắn không phải để chúc mừng rồi.
- Như anh đã biết, - ông già nói - các công ty thành viên của SFF đã chi nhiều triệu đô la để mở ra và duy trì mặt trận đòi mở cửa ngành công nghiệp vũ trụ cho thành phần kinh tế tư nhân Mới đây, chúng tôi đã chi khá nhiều, cho chiến dịch bầu cử của anh.
Sexton lập tức trở nên cảnh giác. - Tôi không can hệ gì tới sự kiện tối nay. Chính tôi cũng bị Nhà Trắng gài bẫy nên mới công khai công kích NASA!
- Đúng thế. Tổng thống đã ra đòn rất hay. Tuy nhiên, chúng ta chưa phải đã mất hết. - Mắt ông ta ánh lên tia hi vọng kỳ lạ.
Ông ta lẩm cẩm mất rồi, Sexton thầm nghĩ. Chẳng côn gì nữa. Tất cả các đài truyền hình lúc này đều đang bình luận về tổn thất đối với chiến dịch tranh cử của ông.
Ông già vào trong phòng, ngồi xuổng giường, đôi mắt mệt mỏi nhìn thẳng vào Sexton:
- Anh có còn nhớ trục trặc kỹ thưật mà lúc đầu NASA gặp phải với vệ tinh nhân tạo PODS không?
Sexton chưa thể biết được câu chuyện của họ sẽ phát triển theo hướng nào. Vào lúc này thì điều đó còn có ý nghĩa khỉ gì nữa? PODS đã tìm được tảng thiên thạch chết dẫm chứa hoá thạch bên trong rồi còn gì!
- Nếu anh vẫn chưa quên, - Ông ta nói tiếp - phần mềm trên vệ tinh đó lúc đầu không hoạt động được bình thường. Anh đã công kích lỗi đó trên các báo chí rất gay gắt.
- Thì đúng là tôi phải làm thế còn gì nữa? - Sexton ngồi xuống đối diện ông già. - Đó là một thất bại nữa của NASA mà!
Ông già gật đầu.
- Tôi đồng ý. Nhưng ngay sau đó, NASA tổ chức cuộc họp báo công bố là đã khắc phục được sai sót đó, - họ đã sửa lại được phần mềm.
Sexton không tận mắt chứng kiến cuộc họp báo đó, nhưng ông nghe kể lại rằng cuộc họp báo hôm đó rất ngắn ngủi, buồn tẻ, chẳng có thông tin gì đáng kể. Người phụ trách dự án PODS đã miêu tả hết sức tẻ nhạt phương pháp NASA khắc phục lỗi phần mềm của PODS và đưa hệ thống vào hoạt động một cách hiệu quả.
- Tôi đã theo dõi PODS rất kỹ kể từ khi nó gặp sự cố - Ông già nói. Ông ta rút trong túi ra cuốn băng video và bước lại bên tivi của Sexton, cho băng vào đầu VCD. - Anh sẽ thấy có điều rất thú vị đấy!
Cuốn băng bắt đầu được chiếu lên Cảnh phòng báo chí của NASA tại đại bản doanh của nó ở Washington. Một người đàn ông ăn mặc rất chải chuốt đang đứng nói trên bục. Tấm biển trước mặt ông ta có ghi:
CHRIS HARPER, Giám đốc Dự án.
Vệ tinh chụp cắt lớp Địa cực (PODS)
Chris Harper người cao, quý phái, ăn nói với vẻ trịnh thượng của người Mỹ gốc Âu rất tự hào về nguồn gốc của mình. Giọng điệu của ông ta khá trau chuốt và có học thức. Ông ta đang công bố trước các nhà báo những tin tức xấu về PODS.
Dù vệ tinh nhân tạo PODS đã được đưa vào quỹ đạo và đang hoạt động tốt, chúng tôi đã gặp phải trục trặc với những máy tính được gắn kèm theo vệ tinh. Đó là một lỗi về phần mềm mà tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Cụ thể là máy lọc FIR hoạt động lỗi do chỉ số voxel không chính xác. Điều đó có nghĩa là phần mềm đặc biệt dành riêng cho PODS không hoạt động được. Chúng tôi đang cố gắng khắc phục sự cố này.
Đám đông thở dài, rõ ràng là đã quen nghe nói về những thất bại của NASA.
- Sự cố đó có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động của PODS? - Một phóng viên hỏi.
Harper trả lời hết sức trơn tru. Và cũng đầy tự tin.
- Hãy tưởng tượng anh có một đôi mắt hoàn hảo nhưng lại không có não bộ để xử lý thông tin. Thực chất thì vệ tinh PODS có thị lực 20/20, nhưng nổ không thể hiểu nổi những gì nó quan sát được. Nhiệm vụ của PODS là phát hiện những túi nước do băng tan trên hai vùng địa cực, nhưng nếu không có máy tính phân tích những dữ liệu do máy quét của nó truyền về, PODS sẽ chẳng thể phát hiện được những thứ chúng ta quan tâm. Lỗi này sẽ được khắc phục sau khi chúng tôi phóng tên lửa lên và tổ chức sửa chữa những máy tính được cài đặt trên vệ tinh đó.
Tiếng xì xào thất vọng lan khắp căn phòng.
Ông già quay sang Sexton:
- Ông ta nói về tin xấu rất trôi chảy đúng không?
- Ông ta là người của NASA. - Sexton lầm bầm. - Mà thất bại là hoạt động chính của NASA mà lại.
Cuốn băng bỏ qua đoạn trắng, rồi chiếu cảnh một cuộc họp báo khác của NASA.
- Đây là cuộc họp báo thứ hai, - Ông già thuyết minh, - Cách đây vài tuần, vào buổi đêm khuya. Rất ít người đến dự. Và lần này tiến sĩ Harper công bố tin tốt.
Cảnh phòng hòp báo. Lần này Harper trông nhếch nhác và thiếu tự tin.
- Tôi rất hân hạnh được công bố rằng, - Ông ta lên tiếng, vẻ rất gượng ép, NASA đã tìm được một giải pháp để khắc phục sự cố của vệ tinh PODS. - Sau đó ông ta giải thích nhát gừng về giải pháp ấy - thay đổi hướng đường truyền tín hiệu của vệ tinh để các máy tính đặt trên mặt đất xử lý thông tin thu được, thay vì các máy tính trên vệ tinh. Rất ấn tượng. Giải pháp này có vẻ rất khả thi và hiệu quả. Sau khi Harper trình bày xong, cả phòng họp báo rộn lên tiếng vỗ tay phấn khởi.
- Như thế có nghĩa là bao lâu nữa thì chúng ta sẽ nhận được tín hiệu? - Một người lên tiếng.
Harper gật đầu, mồ hôi đầm đìa:
- Khoảng một vài tuần nữa.
Tiếng vỗ tay vang lên to hơn nữa. Nhiều cánh tay giơ lên ra hiệu xin đặt câu hỏi…
- Lúc này chúng tôi chưa thể nói gì hơn. - Herper nói, thu dọn giấy tờ trông như sắp phát ốm. - PODS đã trở lại bình thường và hoạt động suôn sẻ. Chúng ta sẽ nhanh chóng nhận được thông tin.
Ông ta lao xuống khỏi bục gỗ theo đúng nghĩa đen của từ ấy.
Sexton nhíu mày. Phải thừa nhận là có điều gì đó rất khác thường. Tại sao lúc báo tin xấu thì Harper đầy vẻ tự tin, còn khi công bố tin tốt thì lại khổ sở đến thế? Đáng ra phải ngược lại chứ. Ông không xem chương trình truyền hình trực tiếp buổi họp báo này, nhưng đã đọc đâu đó về biện pháp khắc phục lỗi phần mềm. Vào thời điểm đó, biện pháp khắc phục sự cố này của NASA có vẻ vô thưởng vô phạt, công chúng chẳng tỏ ra mặn mà gì lắm - PODS chẳng qua chỉ là một dự án thất bại của NASA và đã được gia cố bằng biện pháp chẳng lấy gì làm lý tưởng.
Ông già quay sang nhìn Sexton:
- NASA nói rằng hôm ấy tiến sĩ Harper không được khỏe. - Rồi ngừng một lúc - Tôi thì lại nghĩ Harper nói dối.
Nói dối ư? Sexton trợn tròn mắt, tâm trí rối bời, ông không thể tìm được một lý do nào hợp logic để giải thích cho điều ấy. Tuy nhiên, trong đời mình, Sexton đã nói dối quá nhiều. Vì thế người khác nói dối thì ông nhận ra ngay. Phải thừa nhận rằng trông tiến sĩ Harper rất khả nghi.
- Chắc anh chưa nhận ra. - Ông già nói. - Lời tuyên bố ngắn gọn vừa rồi của Chris Harper chính là cuộc họp báo quan trọng nhất trong toàn bộ lịch sử NASA. - Ngừng một lát. - Giải pháp sửa chữa lỗi phần mềm rất dễ thực hiện mà ông ta vừa miêu tả chính là điều kiện tiên quyết để PODS phát hiện ra tảng thiên thạch.
Sexton bối rối.
- Và ông nghĩ rằng Harper nói dối? Nhưng nếu Harper nói dối, và phần mềm của PODS thực ra vẫn chưa hoạt động được, thì làm thế quái nào mà NASA phát hiện được tảng thiên thạch?
Ông già mỉm cười:
- Chính xác.

