Tác giả: Yann Martel
Tôi nằm trên tấm bạt, quấn chăn, ngủ, mơ, dậy, mộng mị, và nói chung là chẳng có việc gì khác. Một làn gió nhẹ đều đặn thổi. Thỉnh thoảng những tia nước từ đỉnh sóng bạc lại bắn lên làm ướt xuồng. Richard Parker đã biến dạng dưới tấm bạt. Nó không ưa bị ướt, cũng như chuyển động dập dềnh của chiếc xuồng. Trời xanh, không khí ấm áp, và biển chuyển mình đều đặn bình thường. Tôi tỉnh dậy vì một tiếng nổ. Tôi mở mắt và thấy nước trên trời. Nó đổ ập xuống tôi. Tôi lại ngẩng lên nhìn. Trời xanh không mây. Lại một tiếng nổ nữa, về phía trái, không mạnh mẽ như tiếng trước. Richard Parker gầm gào dữ tợn. Nước lại ào vào tôi. Nó có mùi khó chịu.
Tôi nhìn qua mép xuồng. Cái đầu tiên tôi thấy là một vật đen sì to lớn đang nổi trên mặt nước. Mất vài giây tôi hiểu ra nó là cái gì. Một vết nhăn hình vòng cung xung quanh mép nó làm cho tôi vỡ nhẽ. Đó là một con mắt. Nó là một con cá voi. Mắt nó to bằng cả đầu tôi, đang nhìn thẳng vào tôi.
Richard Parker từ dưới tấm bạt đi ra. Nó rít lên. Tôi cảm nhận được một sự biến động rất kín đáo trong tia nhìn của con cá voi và biết rằng nó đang nhìn sang Richard Parker. Nó nhìn như thể trong độ ba mươi giây rồi nhẹ nhàng lặn xuống. Tôi đã lo cá voi có thể dùng đuôi quật xuồng, nhưng nó lặn một mạch và biến dạng xuống đáy biển xanh sẫm. Cái đuôi nó là một cái vợt tròn khổng lồ dần dần mờ đi.
Tôi nghĩ cá voi đang tìm bạn. Chắc nó thấy tôi không cùng cỡ với nó, và ngoài ra, có vẻ tôi đã có bạn rồi.
Chúng tôi thấy một số cá voi nhưng không con nào gần như con đầu tiên đó. Tôi thường nghe tiếng chép miệng và phịt nước trước khi nhìn thấy chúng. Thường chúng nổi lên cách một quãng ngắn, có khi ba bốn con một lúc, như một quần đảo núi lửa. Những con vật khổng lồ này luôn luôn nâng đỡ tinh thần tôi. Tôi tin rằng chúng hiểu tình cảm của tôi lắm, hễ nhìn thấy tôi là một con sẽ thốt lên, “Chao ôi! Kia chính là cậu bé đắm tàu với con mèo nhỏ mà Bamphoo đã kể cho tớ nghe. Tội nghiệp chưa kìa. Mong sao cho cậu ấy có đủ tôm riu. Tớ phải bảo cho Mumphoo, Tomphoo và Stimphoo biết mới được. Không biết có con tàu nào quanh đây không để tớ đi báo động cho cậu ấy. Mẹ cậu ấy sung sướng phải biết nếu gặp lại được con. Tạm biết nhé, cậu bé của tớ. Tớ sẽ cố giúp cậu. Tên tớ là Pimphoo”. Và thế là, qua đường thông tin tự nhiên, tất cả cá voi ở Thái Bình Dương đều biết đến tôi, và nhẽ ra tôi đã được cứu rồi nếu Pimphoo không đến kêu cứu với một tàu Nhật Bản và bị họ bắn chết, rồi Lamphoo cũng chịu chung số phận ấy với một con tàu Na Uy. Nghề săn cá là một tội ác tày đình.
Cá heo cũng là những khách thăm tương đối thường xuyên. Một đàn đã ở quanh chúng tôi suốt cả một ngày một đêm. Chúng rất vui vẻ. Chúng lặn, chúng nhảy, chúng rượt đuổi nhau ngay dưới xuồng có vẻ như chẳng có việc gì khác ngoài việc nô giỡn. Tôi đã cố thử bắt một con. Nhưng chẳng có con nào đến gần đủ tầm cái lao. Ngay có đủ tầm đi nữa thì chúng cũng quá nhanh và quá lớn. Tôi bỏ ý định đó và chỉ ngắm nhìn chúng mà thôi.
Tôi thấy cả thảy sáu con chim. Con nào tôi cũng nghĩ là một thiên thần báo hiệu có đất liền ở gần. Nhưng chúng là những loài chim đi biển có thể lượn qua Thái Bình Dương với chỉ một sải cánh mà thôi. Tôi nhìn chúng, sợ hãi, ghen tị và tủi thân.
Đã hai lần tôi được nhìn thấy một con hải điểu chính cống (1). Con nào cũng đang bay rất cao vào không hề lưu ý gì đến chúng tôi. Tôi nhìn chúng, miệng há hốc. Chúng thật sự là cái gì đó siêu nhiên và không thể hiểu được.
Một lần khác, ngay gần xuồng, có hai con chim hải âu pêtren (2) bay lướt qua, chân đập đập trên mặt nước. Chúng cũng không hề để ý đến chúng tôi, và cũng làm cho tôi kinh ngạc không kém.
Cuối cùng thì chúng tôi cũng thu hút được sự chú ý của một con hải âu đuôi ngắn khác, gọi là loài shearwater, vì khi bay chúng bay đập đầu cánh xuống mặt nước, nhưng cũng thuộc cùng một họ với chim hải âu pêtren. Con này lượn tròn trên đầu chúng tôi, rồi cuối cùng hạ cánh xuống. Nó thò chân, khép cánh và đậu xuống nước, nhẹ nhàng như cái nút chai. Nó nhìn tôi tò mò. Tôi vội vàng mắc mồi bằng một miếng thịt cá bay và quăng dây ra chỗ nó. Không kịp lắp hòn chì nên tôi loay hoay mãi mới cho mồi đến gần được con chim. Nhử nó đến lần thứ ba thì con chim dùng cánh bơi như chèo thuyền đến chỗ cái mồi đang chìm và phấn khích. Tôi để yên thêm vài giây rồi mới giật. Con chim kêu choe choé và khạc ngay miếng mồi ra. Trước khi tôi kịp thử lại lần nữa, nó dang cánh và cất mình lên không trung. Chỉ hai ba cái đập cánh, nó đã rộng đường bay đi mất.
Tôi may mắn hơn với một con chim khoang mặt đen. Nó thình lình hiện ra, lượn về phía chúng tôi, sải cánh dài hàng thước. Nó đậu xuống trên mạn xuồng ngay trong tầm tay của tôi. Cặp mắt tròn xoe của nó hút lấy tôi, vừa ngạc nhiên vừa nghiêm nghị. Đó là một con chim to lớn có tấm thân trắng muốt như tuyết và đôi cánh đen tuyền ở đầu và cạnh. Cái đầu gồ ghề to tướng của nó có một cặp mỏ rất nhọn màu vàng da cam và cặp mắt đỏ giữa khoang mặt đen khiến nó trông hệt như một tên trộm vừa thức trắng một đêm dài. Chỉ có cặp chân rộng có màng màu nâu có vẻ như chưa được thiết kế kĩ lắm. Con chim không biết sợ là gì. Nó đứng ra rỉa lông hàng nhiều phút liền. Lớp lông bên trong của nó thật mềm mại. Khi đã xong, nó ngẩng lên và mọi thứ lại đâu vào đấy, nó lộ nguyên hình là một con tàu không gian có hình khí động học trơn tru tuyệt đẹp. Tôi biếu nó một miếng thịt dorado. Nó nhặt miếng thịt ngay trong tay tôi, mỏ nó đâm vào lòng bàn tay thật dứt khoát.
Tôi bẻ gãy cổ nó bằng cách ấn đầu nó ngửa ra sau, một tay hất mạnh cặp mỏ, tay kia giữ chặt cổ. Lông nó chắc đến nỗi khi tôi vặt lông, da nó bị kéo theo ra soàn soạt. Không phải à vặt lông nữa, mà là xé xác. Nó nhẹ, đúng là để bay lượn, một khối lớn vậy mà không nặng chút nào. Tôi lấy dao lột da nó. Lớn xác nhưng có thật ít thịt, chỉ có một chút ở ngực. Thịt nó nhai sần sật hơn thịt dorado, nhưng vị thì cũng không khác nhiều. Trong bụng nó, ngoài miếng dorado tôi vừa biếu nó, còn thấy có ba con cá nhỏ. Tôi rửa chúng cho hết nhớt rồi chén cả ba. Tôi ăn cả tim, gan, và phổi của con chim. Tôi nuốt cặp mắt và lưỡi nó với một ngụm nước. Tôi đập vỡ sọ nó và nhể những miếng óc nhỏ xíu ra ăn. Tôi ăn cả màng da chân, những gì còn lại của nó chỉ là da, xương và lông. Tôi thả hết xuống cho Richard Parker. Con hổ đã không nhìn thấy con chim lúc nó bay đến. Một bàn chân màu da cam thò ra.
Nhiều ngày sau, lông con chim đã vẫn còn bay lên từ chỗ nằm của Richard Parker và bị gió thổi xuống biển.
Chẳng có con chim nào báo hiệu đất liền.
***
Một lần có chớp. Trời đen kịt, ngày giống như đêm. Mưa rất nặng hạt. Tôi nghe thấy sấm rất xa. Tôi tưởng sẽ chỉ như thế. Nhưng rồi gió nổi lên, thổi mưa bay hết chiều này sang chiều khác. Ngay sau đó, một tia lửa trắng xoá từ trời phóng xuống, chọc thủng mặt nước. Chỗ đó cách chiếc xuồng khá xa, nhưng mọi thứ đều nhìn rõ mồn một. Mặt nước bị chọc thủng bởi cái gì đó như mớ rễ cây trắng xoá; và nhoáng một cái, một cái cây nhà trời vĩ đại mọc ngay lên trên đại dương. Tôi đã không khi nào tưởng tượng được chuyện đó – sét đánh xuống biển. Tiếng sấm nổ thật khủng khiếp. Luồng sáng của chớp thật vô cùng sinh động.
Tôi quay sang Richard Parker và nói, “Nhìn kìa, Richard Parker, một tia chớp đấy”. Tôi thấy rõ nó đang ra sao. Nó nằm bẹp dưới sàn xuồng, tứ chi dang rộng và run lẩy bẩy.
Tia chớp đến với tôi lại hoàn toàn khác. Nó là một cái gì đó kéo tôi ra khỏi các nếp sinh tử tầm thường và ném tôi vào một tâm trạng hưng phấn kì diệu.
Thình lình, một tia sét nữa lại đánh xuống, gần hơn. Chắc là chỉ dành cho chúng tôi. Chúng tôi vừa rơi từ trên đỉnh một ngọn sóng xuống và đang chìm trên lưng con sóng thì ngọn sét đánh thẳng xuống đầu sóng. Một vụ nổ của khí nóng và nước nóng. Trong hai hoặc ba giây gì đó, tấm kính khổng lồ của một chiếc cửa sổ vũ trụ vỡ vụn ra trên không trung trắng loá đến mù mắt, vô vật thể nhưng mạnh mẽ đến nỗi choáng ngợp. Mười ngàn cái kèn trom-pét và hai chục ngàn bộ trống cũng không thể gây nên được một âm thanh lớn lao đến thế của ngọn sét. Nó thực sự điếc tai. Biển trắng loá và không còn màu sắc gì nữa. Mọi thứ chỉ là thuần trắng chói loà hoặc thuần đen tối mịt. Luồng sáng ấy chiếu sáng thì ít mà xuyên thủng thì nhiều. Thế rồi cũng đột ngột như thế, tia sét biến mất. Nó biến mất ngay khi những tia nước nóng bỏng kia còn đang tiếp tục rơi xuống chúng tôi. Ngọn sóng bị trừng phạt kia lại đen ngòm trở lại và tiếp tục lồng lộn như không có chuyện gì đã xảy ra.
Tôi ngây người, đúng là bị sét đánh, theo gần với nghĩa đen của từ đó. Nhưng tôi không thấy sợ.
“Chúng con xin ca ngợi đức Allah, Chúa tể của mọi thế giới, đấng trị vì từ bi và đầy thương khó của ngày phán xử cuối cùng!” Tôi lẩm nhẩm. Rồi quay sang Richard Parker, tôi quát lên, “Không được run lẩy bẩy như vậy nữa! Đó là phép lạ. Là sự bùng nổ thiêng liêng. Là… Là…” Tôi không biết nó là gì nữa. Nó quá lớn lao và kì diệu. Tôi đã cạn lời và hết hơi. Tôi nằm vật xuống tấm bạt, chân tay dang rộng. Mưa lạnh thấu xương. Nhưng tôi mỉm cười. Tôi nhớ lại lần chàm trán với thiên điện đó như một trong những dịp hạnh phúc hiếm hoi và đích thực mà tôi đã có trong suốt cuộc hành trình khổ nạn ấy.
Trong những giây phút diệu kì, người ta dễ tránh được những ý nghĩ nhỏ nhen, và chỉ ân hưởng những tư tưởng bao trùm cả vũ trụ, nó thâu tóm cả sấm sét và những tiếng tích tắc, dày và mỏng, gần và xa.
***
“Richard Parker, một con tàu!”
Tôi đã có niềm khoái cảm được hét lên như vậy một lần. Tôi đã choáng ngợp trong hạnh phúc. Mọi đớn đau, bực dọc tan biến hết và tôi thực sự bốc lửa vì vui mừng.
“Chúng ta thắng rồi! Chúng ta sống rồi! Mày có hiểu không Richard Parker? Chúng ta sống rồi! Ha, ha, ha, ha!”
Tôi cố gắng kiềm chế sự phấn khích của mình. Nhỡ con tàu đi ngang quá xa và không nhìn thấy chúng tôi thì sao? Có nên phóng một quả pháo sáng thăng thiên không? Vô lí!
“Nó đang đi thẳng về phía chúng ta kìa, Richard Parker! Chao ôi, con xin tạ ơn ngài, vị chúa tể Ganesha! Phước thiện thay là sự hiện diện của ngài, dù ở hình thức nào cũng vậy, con xin tạ ơn đấng Allah – Brahman!” (1).
Nó không thể không thấy chúng tôi. Có hạnh phúc nào lớn hơn niềm vui được cứu sống? Câu trả lời là, hãy cứ tin tôi đi, không có cái gì như thế cả. Tôi đứng phắt dậy. Đã lâu lắm rồi tôi mới đứng hẳn dậy như thế.
“Mày có tin được không hả Richard Parker? Có người, có đồ ăn, một cái giường. Chúng ta lại có cuộc sống rồi. Chao ôi, có gì vui hơn thế nữa?”
Con tàu đến gần hơn. Trông nó như một tàu chở dầu. Hình dáng mũi tàu đã thấy rõ. Thần cứu mạng đang đến trong một chiếc áo choàng màu đen có viền trắng.
“Nhưng nhỡ ra…?”
Tôi không dám nói tiếp. Nhưng liệu có thể có khả năng là cha, mẹ và Ravi vẫn còn sống hay không? Tàu Tsimtsum có nhiều xuồng cứu nạn. Biết đâu họ đã đến Canada mấy tuần trước rồi và đang nóng lòng chờ tin tức của tôi. Biết đâu tôi là người duy nhất trên chiếc tàu đắm đó còn đang mất tích.
“Lạy Chúa, tàu dầu to thật!”
“Biết đâu họ đã đang ở Winnipeg. Ta tự hỏi ngôi nhà của chúng ta trông ra sao. Này Richard Parker, mày có nghĩ là nhà cửa ở Canada có sân bên trong như truyền thống vùng Tamil của ta không? Có thể không? Có thể vì nếu vậy thì mùa đông tuyết sẽ chất đống ngoài sân. Đáng tiếc thật. Không có bình yên nào giống như một cái sân trong nhà vào một ngày nắng đẹp. Không biết ở Manitoba người ta trồng được các loại hương liệu gì?”
Con tàu đã đến rất gần. Họ phải dừng hoặc lái tránh chúng tôi ngay mới phái.
“Phải đấy, không biết có hương liệu gì nhỉ…? Lạy Chúa tôi!”
Tôi kinh hoàng nhận ra rằng con tàu dầu không những đang đi về phía chúng tôi – mà nó đang thực sự đâm sầm vào chúng tôi. Mũi tàu là cả một bức tường kim loại cứ to lên trông thấy từng giây một. Một đợt sóng bao quanh nó đang ào về phía chúng tôi không gì ngăn cản nổi. Richard Parker cũng cảm thấy điều gì sắp xảy ra. Nó quay lại sủa nhặng lên, nhưng không như chó sủa, mà là hổ sủa: rất mạnh mẽ, đáng sợ, và hoàn toàn đúng với hoàn cảnh lúc đó.
“Richard Parker, nó sẽ đâm chìm chúng ta mất. Làm gì bây giờ? Mau lên, mau lên, pháo sáng đâu rồi? Không! Phải chèo thôi! Mái chèo ở sẵn đây rồi phải không? Chèo đi! Dô ta! Dô ta! Dô ta! Dô ta!...”
Sóng từ mũi con tàu đánh dạt chúng tôi lên cao. Richard Parker chúi người, lông dựng ngược. Cái xuồng trôi tuột khỏi con sóng ấy và trượt khỏi con tàu chỉ khoảng sáu mươi phân.
Con tàu lừ lừ đi qua, như một vách núi đen sì ngất ngư hàng dặm lên trời, hàng dặm tường pháo đài mà không có một trạm gác nào để họ có thể nhìn thấy chúng tôi đang ngắc ngoải dưới hào sâu ngay cạnh. Tôi đốt một quả pháo sáng thăng thiên, nhưng lại nhắm trượt hướng. Đáng lẽ phải bay ngang qua boong tàu và nổ sáng loà mắt thuyền trưởng, nhưng nó lại đâm bổ ngay vào sườn tàu và rơi tõm xuống Thái Bình Dương rồi xịt ngóm. Tôi lấy hết sức bình sinh rồi thổi còi, gào thét, nhưng chẳng có tác dụng gì.
Con tàu cứ thế quạt nước lướt qua chúng tôi, máy nổ rầm rầm và chân vịt xoay như súng liên thanh nổ dưới nước, bỏ mặc chúng tôi bập bõm, dập dềnh trong đám bọt sóng nó để lại đằng sau. Sau bao nhiêu tuần chỉ nghe âm thanh thiên nhiên, những tiếng động cơ đó thật lạ lùng và đáng sợ đến nỗi tôi cứ đứng chết lặng tại chỗ.
Chưa đầy hai mươi phút sau, con tàu ba trăm ngàn tấn chỉ còn là một cái chấm ở chân trời. Khi tôi quay đi chỗ khác, Richard Parker vẫn còn nhìn theo hướng đó. Vài giây sau, nó cũng quay đi và mắt chúng tôi gặp nhau. Trong mắt tôi lúc ấy đầy rẫy mong mỏi, đau đớn, khổ não và cô đơn. Nó chỉ có thể biết rằng một điều gì đó rất buồn và lớn lao đã vừa xảy ra, một điều gì đó mà nó không thể hiểu được. Nó không thể thấy rằng chúng tôi đã vừa lỡ mất cơ hội được cứu sống. Nó chỉ thấy rằng con thú đầu đàn ở dây, cái con hổ lạ lùng và khó đoán biết này, đã vừa rất phấn khích. Nó đi ngủ. Cả một sự kiện như vậy, nó chỉ bình phẩm bằng một tiếng meo tỉnh bơ.
“Ta yêu mày biết bao!” Những lời ấy buột khỏi miệng tôi, tinh khiết, chân thành, vô biên. Cảm giác ấy tràn ngập lồng ngực tôi. “Thực là thế. Ta yêu mày biết bao, Richard Parker. Nếu không có mày lúc này, không biết ta sẽ làm gì đây. Chắc ta sẽ không sống nổi đâu. Đúng thế. Ta sẽ chết vì tuyệt vọng mất. Đừng bỏ cuộc. Richard Parker, đừng bỏ cuộc. Ta sẽ đưa mày về đất liền, ta thề như vậy đấy!”
***
Một trong những phương cách trốn chạy thực tại ưa thích của tôi là tự làm cho mình rơi vào tình trạng yếm khí nhẹ. Tôi dùng một mảnh vải cắt ra từ cái chăn đã rách tã. Tôi gọi nó là miếng giẻ mơ mộng. Tôi nhúng nó xuống biển cho ướt hết nhưng không quá sũng đến mức rỏ ròng ròng. Tôi nằm thật thoải mái lên mui bạt và đắp miếng giẻ ấy lên mặt, sao cho thật khít vào mắt, mũi mồm. Và tôi sẽ rơi vào một trạng thái đê mê. Điều này thực ra không khó đối với một người đã thường xuyên ở trạng thái lờ đờ mệt mỏi. Nhưng miếng giẻ mơ mộng rõ ràng đã cho trạng thái đê mê của tôi một phẩm chất đặc biệt. Có thể vì cách nó hạn chế lượng không khí tôi thở. Tôi sẽ chìm vào những giấc mơ khác thường, những mê đắm, ảo ảnh, ý nghĩ, cảm xúc và kí ức khác thường. Và thời gian sẽ qua rất nhanh. Khi một cử động hoặc một cái ngáp vì ngạt hơi làm tôi tỉnh giấc và miếng giẻ ấy tuột đi, tôi tỉnh táo và mừng rỡ thấy thời gian đã qua thật nhanh. Thật như vậy, vì miếng giẻ đã khô gần hết. Nhưng hay hơn nữa là cảm giác mọi thứ đã khác đi, rằng cái giây phút hiện nay khác với các giây phút trước đó.
***
Có một hôm chúng tôi gặp rác. Lúc đầu, nước biển lóng lánh lên vì những mảng dầu loang. Rồi sau đó là những rác thải công nghiệp và sinh hoạt: chủ yếu là các thứ bằng nhựa đủ mọi hình dạng và màu sắc, nhưng cũng có cả các mảnh gỗ, hộp bia, chai rượu, những mảnh vải, những đoạn dây, và xung quanh chính là những đám bọt vàng vọt. Chúng tôi trôi thẳng vào chúng. Tôi tìm xem có cái gì có thể dùng được chăng. Tôi nhặt một chai rượi vang đã cạn có nút chai. Cái xuồng đâm phải một cái tủ lạnh đã mất động cơ. Tôi với tay nắm cửa và kéo nó mở ra. Cái tủ lạnh phả ra một thứ mùi khẳn và kinh tởm nồng nặc đến mức không khí như biến hẳn màu. Lấy tay bịt mũi, tôi nhìn vào bên trong. Nhem nhuốc những vết bẩn, nước quả đã đen lại, một đống rau quả đã thối rữa hoàn toàn, sữa đã quánh hết và nhiễm khuẩn đến mức thành ra một thứ nhầy nhụa xanh lè, và cả một phần tư một con vật gì đó đã thối rữa đen đủi đến mức không thể nhận ra là thịt con gì. Với kích cỡ ấy thì chỉ có thể là thịt cừu. Bên trong cái tủ đóng kín và ẩm ướt ấy, cái mùi thối rữa kia đã có thời gian lên men, cay đắng và giận dữ. Nó xộc vào các giác quan của tôi như một cơn cuồng, bụng quặn đau và hai chân mềm nhũn ra. May sao, nước biển nhanh chóng tràn vào cái tủ và nhấn chìm nó. Rác rưởi khác lập tức tràn tới lấp kín chỗ trống ấy trên mặt nước.
Chúng tôi đã qua khỏi vùng ngập rác. Rất lâu về sau, khi có gió thổi từ phía đó lại, tôi vẫn còn ngửi thấy mùi hôi thối ấy. Phải mất một ngày, những vết dầu bám vào mạn xuồng mới được biển rửa sạch.
Tôi đút một bức thông điệp vào trong cái chai: “Tàu chở hàng Tsimtsum của Nhật Bản, treo cờ Panama, đắm ngày 2 tháng 7 năm 1977 trên Thái Bình Dương, bốn ngày sau khi rời Manila. Tôi đang ở trên xuồng cứu nạn. Tên tôi là Pi Patel. Có một ít thức ăn và nước uống, nhưng vấn đề nghiêm trọng là hổ Bengal. Làm ơn báo tin cho gia đình ở Winnipeg, Canada. Xin cảm tạ nếu được giúp đỡ dưới bất kỳ hình thức nào. Cảm ơn.” Tôi đóng cái nút chai, bọc thêm ra ngoài một mảnh vải nhựa. Tôi dùng dây nylon buộc túm chặt cái mảnh vải nhựa ấy vào cổ chai, rồi thả cái chai xuống biển.
***
Cái gì cũng gian nan hết. Cái gì cũng bị nắng chiếu đốt đến trắng nhợt và mưa gió vùi dập tả tơi. Chiếc xuồng, cái bè cho đến khi nó tan rã, tấm bạt mui xuồng, những cái máy cất nước, cái hứng mưa, những cái túi nhựa, những sợi dây, những cái chăn, cái lưới – tất cả đều sờn rách, hao mòn, căng nhão ra, chùng lỏng xuống, nứt vỡ, khô nẻ, mủn nát, tả tơi, bạc phếch. Cái gì nhẵn nhụi thì thành thô nhám. Cái gì sắc thì cùn đi. Lành lặn thì ra nát bấy. Tôi đã lấy da cá và mỡ rùa xoa xát lên chúng như thể bôi dầu trơn và bảo vệ, nhưgn chẳng ăn thua gì. Muối tiếp tục ăn mòn tất cả với hàng triệu triệu cái mõm tham lam của nó. Còn mặt trời thì nướng cháy tất cả mọi thứ. Nó phần nào khuất phục Richard Parker. Nó cạo sạch xương và đốt chúng đến trắng hếu. Nó đốt hết quần áo tôi và có thể đã đốt trụi da dẻ tôi rồi nếu như tôi không tự vệ bằng cách chui xuống chiếc chăn hoặc mai rùa. Khi nóng không chịu nổi, tôi lấy xô múc nước biển dội lên người. Có những lúc nước nóng đến mức cảm thấy nó đặc như siro. Mặt trời cũng tiêu diệt hết các thứ mùi. Tôi không nhớ được một thứ mùi gì. Hình như chỉ nhớ cái mùi của vỏ pháo sáng cầm tay. Chúng có mùi như mùi một thứ hạt cay làm gia vị, tôi đã nhắc đến chuyện này rồi. Đến Richard Parker mà tôi cũng chẳng nhớ được là nó có mùi gì nữa.
Chúng tôi chết dần chết mòn. Nó diễn ra chậm chạp, nên không phải lúc nào tôi cũng để ý thấy. Nhưng hễ đã để ý là tôi thấy ngay. Chúng tôi là hai con vật thuộc loài có vú gầy xác, khô cháy và đang chết đói. Lông Richard Parker đã mất vẻ bóng mượt, thậm chí đã trụi thùi lụi nhiều chỗ ở vai và mông. Nó sụt cân thảm hại, chỉ còn là bộ xương trong một cái túi da thùng thình bạc màu. Tôi cũng đã héo quắt mất rồi, khô kiệt mất rồi, và xương xẩu lòi ra thảm hại qua làn thịt mỏng dính còn lại trên người.
Tôi bắt đầu bắt chước Richard Parker ngủ thật nhiều. Nhưng đâu có ra ngủ, mà chỉ là một trạng thái nửa tỉnh nửa mê, mộng mị và thực tế gần như không thể phân biệt được. Tôi dùng đến miếng giẻ mơ mộng của mình rất nhiều.
Sau đây là những trang nhật ký cuối cùng của tôi:
Hôm nay thấy một con cá mập to hơn tất cả những con đã thấy từ trước đến nay. Một con quái vật cổ đại dài sáu thước. Có sọc. Một con cá mập hổ – rất nguy hiểm. Cứ bơi quanh mãi. Chỉ sợ nó tấn công. Đã sống sót với một con hổ rồi; chắc sẽ chết vì con hổ khác. Nó không tấn công. Bơi đi rồi. Trời nhiều mây, còn thì chẳng có gì.
Không mưa. Chỉ có sáng là sầm sì. Cá heo. Cố móc một con. Hoá ra mình không thể chịu đựng được khi thấy R.P. ốm và bẳn tính. Mình ốm quá. Nếu nó tấn công chắc sẽ không thể tự vệ được. Đến thổi còi thôi mà cũng không còn sức nữa.
Ngày lặng và nóng như thiêu. Nắng dã man. Thấy óc như sôi lên trong đầu. Thấy chán nản cực độ.
Cả thể xác và linh hồn đều quỵ rồi. Sắp chết. R.P. còn thở nhưng không động cựa. Cũng sẽ chết thôi. Sẽ không giết mình.
Cứu rỗi. Một tiếng liền mưa to, thật ngon, thật đẹp. Đổ nước đầy mồm, đầy các túi và hộp, uống đến khi không thể thêm một giọt nào vào người được nữa. Mặc kệ cho ướt sũng người để rửa sạch muối. Bò ra xem R.P. ra sao. Không phản ứng gì. Nằm cuộn tròn, đuôi duỗi thẳng. Da nổi cục vì ướt. Lúc ướt trông nó nhỏ hơn. Xương xẩu. Sờ vào người nó lần đầu tiên trong đời. Xem đã chết chưa. Chưa. Vẫn thấy ấm. Sờ nó lạ thật. Thảm hại như vậy rồi mà nó vẫn chắc, đầy cơ bắp, sống động. Chạm vào lập tức thấy da nó rung động, như thể mình là một con nhặng đốt vào nó. Mãi sau mới thấy đầu động đậy, vẫn ngập một nửa dưới nước. Thà uống nước còn hơn chết đuối. Dấu hiệu tốt: đuôi dựng lên. Ném một miếng thịt rùa vào trước mũi. Chẳng thấy gì. Mãi mới thấy nó nhỏm lên, uống nước. Uống mãi. Ăn. Không nhỏm hẳn dậy. Cả tiếng đồng hồ chỉ liếm láp khắp người. Lại ngủ.
Chẳng ích gì. Hôm nay ta chết.
Ta sẽ chết hôm nay.
Ta chết.
Đó là đoạn cuối cùng. Từ đó, tôi vẫn sống, chịu đựng, nhưng không biết là như vậy. Có những nét xoáy ốc bên lề trang giấy. Tôi cứ tưởng sẽ bị hết giấy. Nhưng lại hết mực.
Chú thích
(1) Độc giả để ý Pi tôn vinh vị thần của đạo Hindu và Hồi giáo, Allah là thánh Jesus của đạo Hồi, Brahman là Thượng Đế của đạo Hindu (ND)
(1) Nguyên văn: albatross, một loài chim biển khổng lồ, sải cánh dài tới gần bốn thước, chân có mạng, thuộc họ Diomedeidae, có thể lượn trên không rất lâu (ND)
(2) Nguyên văn: petrel, một loài chim biển hay bay là là trên mặt nước, nên được đặt theo tên thánh Peter, là người tương truyền đã đi bộ trên mặt nước như chúa Jesus (ND).

