Tác giả: Yann Martel
Tôi thức dậy một lần trong đêm đó. Tôi gạt cái dù che sang một bên và nhìn ra ngoài. Vầng trăng lưỡi liềm có đường viền thật sắc nét và bầu trời trong vắt hoàn hảo. Những vì sao tỏa sáng thật mãnh liệt mà cũng rất kiềm chế, đến nỗi thật vô lý nếu gọi đó là đêm tối. Biển nằm yên, tắm trong thứ ánh sáng e ấp và lấp lánh, một màn khiêu vũ của màu đen và màu sáng bạc trải dài vô tận khắp xung quanh tôi. Cái gì cũng như có khối sâu và dầy – khối không trung bên trên tôi, khối nước xung quanh và bên dưới tôi. Tôi vừa cảm động vừa sợ hãi. Tôi cảm thấy mình giống như nhà hiền triết Markandeya, từ trong miệng thần Vishnu ngã ra ngoài khi thần đang ngủ và nhìn thấy toàn thể vũ trụ, tất thảy mọi thứ trong vũ trụ. Trước khi nhà hiền triết có thể chết vì sợ hãi, thần Vishnu tỉnh dậy và lại quẳng ông vào miệng mình. Lần đầu tiên tôi nhận thấy – và còn sẽ nhận thấy điều đó nhiều lần trong suốt cơn hoạn nạn của mình, giữa những cơn đau đớn và tuyệt vọng – rằng khổ nạn của tôi đang xảy ra trong một cảnh trí thật lớn lao. Tôi nhìn nhận khổ nạn của mình đúng như bản chất của nó, hữu hạn và chẳng có nghĩa lý gì, đến nay vẫn vậy. Sự khổ nạn của tôi chẳng vừa vào đâu cả, tôi biết thế. Và tôi có thể chấp nhận điều này. Chẳng sao cả. ( Chỉ có ban ngày là tôi phản đối: “Không! Không! Không! Khổ nạn của tôi có nghĩa lý của nó. Tôi muốn sống! Tôi không thể không hòa trộn cuộc sống của tôi với cuộc sống của vũ trụ. Cuộc sống là một cái lỗ nhìn trộm, một lối duy nhất và bé xíu để đi vào cõi vô cùng – làm sao tôi lại không thể tận hưởng thêm một chút cảnh tượng của muôn vật có thể thấy được qua cái lỗ ấy? Tôi chỉ có cái lỗ bé tí ấy thôi mà!” Tôi lúng búng những lời cầu nguyện của đạo Hồi và nằm xuống ngủ tiếp.
***
Sáng hôm sau, tôi không đến nỗi ướt lắm và cảm thấy khỏe khoắn. Tôi nghĩ điều đó rất đáng nói, nếu xét đến những khó khăn lo lắng và tôi đang phải chịu đựng lúc bấy giờ, cũng như việc tôi đã ăn rất ít trong nhiều ngày liền.
Hôm ấy trời đẹp. Tôi quyết định thử câu cá, lần đầu tiên trong đời. Sau bữa điểm tâm ba cái bánh qui và một hộp nước, tôi đọc những gì viết về chủ đề này trong cuốn sách cẩm nang sống còn. Vấn đề đầu tiên: mồi câu. Tôi suy tính chuyện đó. Có thịt chết, nhưng lấy chộm đồ ăn ngay dưới mũi hổ thì tôi không dám. Nó không thể hiểu được rằng đó là một khỏan đầu tư sẽ đem lại cho nó những món lại tuyệt hảo. Tôi quyết định dùng da giầy. Tôi chỉ còn một chiếc. Chiếc kia đã tuột mất khi đắm tàu.
Tôi bò lên xuồng và lấy từ một thùng đồ lên một bộ đồ câu, con dao và một cái xô để cá câu được. Richard Parker đang nằm nghiêng một bên. Đuôi nó nhảy dựng lên khi tôi leo lên mũi xuồng nhưng đầu nó không động đậy. Tôi thả bè ra xa.
Tôi buộc lưỡi vào dây câu qua một đoạn thép dẫn mồi. Thêm mấy hòn chì. Tôi chọn ba hòn có hình giống như thủy lôi. Rồi cởi giầy và cắt nó thành từng mẩu nhỏ. Không phải dễ, vì da giầy rất dai và cứng. Tôi cẩn thận luồn mũi câu vào một mẩu da dẹt, không đâm xuyên qua mà cố gài nó vào trong sao cho đầu nhọn lưỡi câu không lộ ra ngoài. Tôi buông dây xuống thật sâu. Tối hôm trước tôi đã nhìn thấy biết bao nhiêu là cá và nghĩ rằng sẽ rất dễ cắn câu.
Thế mà chẳng được con nào. Cả chiếc giầy biến dần từng mẩu một. Dây cứ thấy động hết cái này đến cái khác, cá cứ thi nhau ăn mà không mắc câu, tôi cứ liên tục thay mồi, cho đến lúc chỉ còn một cái đế và dây giày. Khi thấy đoạn giây giầy không hấp dẫn như một con giun làm mồi câu, tôi suốt ruột quá liền móc vào cái lưỡi câu cả cái đế giầy to tướng. Thật là một ý tưởng không hay. Tôi thấy cái dây câu bị kéo nhẹ một cái, rồi căng ra rất hồi hộp, sau đột nhiên nhẹ bỗng. Tôi kéo lên, chỉ còn có dây mà thôi. Tôi đã mất cả chì lẫn chài.
Mất mát đó không làm tôi nản lòng nhiều lắm. Trong bộ đồ câu vẫn còn nhiều lưỡi thép dẫn mồi và các hòn chì khác, và ngoài ra còn cả một bộ đồ câu khác còn nguyên. Mà thực ra tôi câu cá đâu phải cho mình ăn. Tôi có rất nhiều đồ dự trữ mà.
Mặc dù vậy, một phần trí khôn của tôi, cái phần thường nói ra những điều ta không muốn nghe, la lối rầm rĩ.
“Ngu ngốc thì phải trả giá. Lần sau thì ngươi nên thận trọng và thông minh hơn.”
Gần hết buổi sáng hôm đó thì con rùa thứ hai xuất hiện. Nó bơi thẳng lên bè. Nếu muốn, nó đã có thể đâm lên và cắn vào đít tôi. Khi nó quay người bơi đi, tôi với xuống định tóm lấy hai chân sau của nó, nhưng vừa chạm tay vào nó tôi đã rụt ngay tay lại vì sợ. Con rùa bơi đi mất.
Vẫn cái phần trí khôn đã la lối tôi trong vụ câu cá thất bại kia lúc này lại lên tiếng. “Ngươi định nuôi cái con hổ kia bằng gì, nói rõ xem nào? Ngươi nghĩ nó sẽ sống được bao lâu với cái xác mấy con vật kia? Ta có phải nhắc ngươi là hổ không phải là loài ăn thịt chết? Công nhận rằng lúc đói gần chết thì nó cũng sẹ bịt mũi nhắm mắt mà ăn. Nhưng ngươi có nghĩ rằng trước khi phải chén con ngựa vằn đã thối rữa kia, nó sẽ cố gắng ăn thịt thằng cu Ấn Độ vẫn còn tươi sống nguyên lành và chỉ cách nó vài sải bơi ngắn mà thôi không? Rồi còn tình hình uống nước thì sao? Ngươi biết là hổ không chịu được đói khát kéo dài. Ngươi có để ý mùi hôi từ mồm miệng nó phả ra không? Dấu hiệu xấu đấy. Chẳng nhẽ ngươi hy vọng nó sẽ uống cạn Thái Bình Dương để thỏa cơn khát và do vậy cho phép ngươi cứ thế đi bộ đến châu Mỹ hay sao? Phải công nhận khả năng uống nước biển đáng kinh ngạc của bầy hổ vùng Sandarbans. Có thể là vì chúng sống nhiều đời rồi trong các khu rừng chầm ngập mặn. Nhưng khả năng đó chỉ có hạn mà thôi. Người ta đã chẳng viết rằng hổ phải uống nhiều nước muối quá sẽ thèm thịt người hay sao? Chao ôi, hãy nhìn kìa. Nhắc đến quỷ thì quỷ xuất hiện. Nó kia kìa. Nó đang ngáp kìa. Kinh chưa, cả một cái hang khổng lồ. Hãy nhìn những cái răng dài như nhũ đá kia của nó. Biết đâu hôm nay ngươi sẽ có dịp vào đó chơi.”
Lưỡi của Richard Parker, to và có mầu sắc như một cái túi cao su đựng nước nóng để chườm, lè ra rồi thụt vào sau khi nó ngáp. Nó nuốt khan.
Suốt ngày hôm ấy tôi lo lắng đến phát ốm. Tôi không dám đến gần chiếc xuồng. Nhưng khác với nỗi lo lắng của tôi, Richard Parker yên lặng cả ngày hôm đó. Nó vẫn còn chỗ nước mưa và chưa lo gì đến chuyện đói. Nhưng nó cũng đánh động theo nhiều cách – gầm, gừ, gằn giọng, rên rẩm theo kiểu hổ - nghĩa là không muốn làm cho tôi yên lòng. Câu đố có vẻ như không có lời giải: muốn câu thì phải có mồi, mà muốn có mồi thì tôi phải câu được cá. Làm sao bây giờ. Lấy ngón chân ra làm mồi chăng? Hay cắt bớt một tai.
Rồi một giải phát tự nó xuất hiện cuối buổi chiều hôm đó một cách bất ngờ. Tôi kéo dây bè và lần vào cạnh xuồng. Hơn nữa: tôi đã trèo hẳn lên xuồng và đang lục lọi cái tủ xem có tìm thấy ý tưởng gì có thể cứu mình được không. Tôi đã buộc cái bè cách xuồng chừng gần hai thước. Tôi tưởng tượng rằng nếu Richard Parker giở trò gì thì mình sẽ có thể thoát thân chỉ bằng một cú nhẩy và một cú giật tháo cái nút hờ của giây buộc bè. Tôi đã dám liều như thế chỉ vì chẳng còn cách nào khác.
Không tìm thây gì, không mồi, không một ý tưởng nào mới, tôi ngồi dậy và lập tức thấy mình đang ở giữa tâm điểm của cái nhìn soi mói của nó. Nó ở đầu kia của xuồng, chỗ trước đây con ngựa vằn nằm chết, quay về phía tôi, có vẻ như đã kiên nhẫn đợi để tôi để ý đến nó. Làm sao tôi lại không nghe thấy những chuyển động của nó? Làm sao tôi lại có thể tự huyễn hoặc mình rằng tôi có thể đánh lừa được nó? Bất thình lình, tôi bị tát thẳng vào mặt. Tôi rú lên và nhắm nghiềm mắt lại. Với tốc độ của loài mèo nó đã nhảy vọt lên qua chiều dọc của xuồng và tát tôi. Mặt tôi sắp bị cào nát, đầu tôi sẽ rụng theo, chết như vậy thật hão hùng. Đau đớn quá nên tôi lại không cảm thấy gì. Bị choáng cũng may. Và may mắn thay cái khả năng tự điều chỉnh đã cứu ta không phải chịu đau đớn và buồn khổ quá lớn. Trung tâm điểm của sự sống là một cái ổ cầu chì. Tôi rên rỉ. “Làm tới đi, Richard Parker, kết thúc tao đi. Nhưng hãy làm ơn làm cho nhanh. Cầu chì đã đứt rồi, đừng thử nó thêm nữa.”
Nó chẳng vội gì. Nó ở ngay chân tôi, gầm gừ ấm ĩ. Chắc chắn nó đã phát hiện ra cái tủ và những của báu trong đó. Tôi kinh hoàng mở mắt.
Đó là một con cá. Có một con cá ở trong tủ. Nó đang quẫy ầm ĩ như bất kỳ một con cá nào khác khi mắc cạn. Một con cá bay. Nó thon thả và có màu xanh xám đậm, với cặp cánh khô ráo không có lông, và cặp mắt tròn mầu vàng không hề chớp. Chính con cá bay này đã đập vào mặt tôi, không phải Richard Parker. Con hổ vẫn ở cách tôi gần năm thước, rõ ràng là nó đang ngạc nhiên không biết tôi đang bận chuyện gì đây. Nhưng nó đã nhìn thấy con cá. Tôi có thể đọc được vẻ tò mò sâu sắc trên mặt nó. Có vẻ nó sắp sửa muốn điều tra việc này.
Tôi cúi xuống nhặt con cá và ném về phía nó. Đó là cách dạy nó phải thuần phục. Hết chuột thì sẽ có cá bay. Chẳng may, con cá bay đi thật. Trên không trung, ngay trước mõn con Richard Parker, con cá lượn vù lên và nhào xuống nước. Nhanh như chớp. Richard Parker quay đầu theo và đớp một cái, những lớp da dưới cổ nó rung lên, nhưng con cá nhanh quá. Nó có vẻ rất ngạc nhiên và khó chịu. Nó lại quay về phía tôi. “Miếng ăn của tôi đâu?”, vẻ mặt có vẻ hỏi thế. Tôi vừa sợ vừa buồn. Rồi quay người lại với hy vọng mong manh là có thể nhẩy vội xuống bè trước khi nó nhào đến tôi.
Đúng lúc đó, không khí bỗng rung lên và chúng tôi bị cả một bầy cá bay tấn công. Chúng nhào tới như một bầy châu chấu hung dữ. Không những do chúng đông, mà rõ ràng có cái gì rất giống với côn trùng trong những âm thanh cành cạch và vù vù của chúng. Chúng từ dưới nước phóng vụt lên, hàng chục con một lần, có những con vỗ cánh phành phạch trên không và bay được đến hàng trăm thước. Nhiều con nhào xuống nước ngay cạnh xuồng. Nhiều con khác bay vù qua. Một số đâm nhào vào mạn xuồng, nghe như tiếng pháo tép nổ. Nhiều con may mắn vùng vẫy trên mui bạt và quẫy được xuống biển. Các con khác, ít may mắn hơn, rơi thẳng xuống lòng xuồng, quẫy ầm ĩ. Và còn nhiều con cứ thế đâm thẳng vào chúng tôi. Đứng trơ trọi không gì che chắn, tôi cảm thấy mình đang trải qua một cảnh tử vì đạo của thánh Sebastian (1). Mỗi con cá đâm vào tôi như một mũi tên xuyên vào da thịt. Tôi ôm chặt lấy một cái chăn để tự vệ, đồng thời cố bắt lấy vài con cá. Người tôi đầy những vết tím và sứt sẹo.
Lí do cuộc tấn công ấy lập tức lỗ rõ: bọn cá bay bị bầy cá dorados rượt đuổi sát sạt. Bọn dorados to lớn hơn không thể nào lượn như cá bay, nhưng chúng bơi nhanh hơn nhiều và các cú vọt lên nhào xuống bất thần của chúng rất lợi hại. Chúng có thể chộp được bọn cá bay nếu cả hai cùng từ một điểm vọt lên không và cùng rơi xuống nước theo một hướng. Và là cá mập, nên bọn dorados có khả năng vọt lên khỏi mặt nước rất mãnh liệt, mặc dù không bén giọt trơn tru như cá bay. Trận chiến trên mặt nước đó diễn ra không lâu, nhưng khi đang tiếp diễn, mặt biển như sôi lên sùng sục, cá nhẩy loạn xạ và đớp nhau phầm phập.
Richard Parker đối mặt với bọn cá cứng cỏi và có hiệu quả hơn tôi. Nó rướn người, chạy quanh, ngăn chặn, với bắt và đớp cắn tất cả những con cá nào nhào về phía nó. Nó nuốt tươi nhiều con, những cặp cánh cá còn quẫy ngay trong miệng. Một màn trình diễn sức mạnh và tốc độ thật đẹp mắt. Thực ra, không phải chỉ có tốc độ của nó, mà ấn tượng mạnh mẽ hơn là ở dáng vẻ tự tin thuần túy súc vật của nó, sự cuốn hút hoàn toàn của nó vào giây phút hành động. Sự hòa trộn của tập trung và thả lỏng, cái tinh thần tự cao đến thế, quả đáng là niềm ghen tị của những tín đồ Yago cao đạo nhất.
Khi trận chiến đó qua đi thì kết quả là, ngòai một thân thể đau nhừ đối với tôi, có sáu con cá bay nằm lại trong tủ và rất nhiều con khác dưới sàn xuồng. Tôi vội bọc một con cá vào cái chăn, vớ lấy một cái rìu và trở lại bè.
Tôi tiễp tục rất thận trọng. Việc để mất cả bộ đồ câu sáng hôm ấy đã có tác dụng làm cho tôi tỉnh táo hơn. Tôi cẩn thận giở con cá ra, luôn giữ chặt nó xuống bằng một tay, bởi tôi thừa biết nó sẽ tìm cách nhẩy thoát thân. Càng nhìn thấy con cá, tôi càng cảm thấy khó chịu và sợ hãi. Cái đầu nó đã ló ra hết. Trong tư thế tôi giữ nó, con cá trông như một miếng kem cá bẩn thỉu lòi ra trên một cái vỏ côn bằng chăng len. Nó đang ngáp ngáp tìm nước, miệng và mang phồng lên dẹp xuống. Có thể cảm thấy cặp cánh nó đang đẩy mạnh vào tay tôi. Tôi lật úp cái xô và đè đầu con cá xuống đáy xô. Tôi cầm lấy cái rìu và nhấc rìu lên.
Tôi đã bắt đầu hạ rìu nhiều lần, mà không thể kết thúc được nhát chặt. Tình trạng tâm lý mềm yếu ấy có vẻ vô lý nếu xét đến những gì tôi đã chứng kiến trong những ngày vừa qua, nhưng đó là hành vi của những kẻ khác, của bọn thú vật ăn thịt lẫn nhau. Có thể coi là tôi có một phần trách nhiệm trong cái chết của con chuột, nhưng tôi chỉ ném nó đi, chứ Richard Parker mới là kẻ giết chết nó. Cả một đời chay tịnh bình yên đang ngăn không cho tôi dám chặt đầu một con cá.
Tôi lấy chăn phủ lên cái đầu cá và xoay cái rìu ngược lại. Một lần nữa tôi vung tay. Nhưng tôi không thể chịu nổi ý nghĩ mình đang lấy búa đập xuống một cái đầu mềm mại còn đang sống.
Tôi bỏ rìu xuống, quyết định sẽ bẻ cổ con cá mà không nhìn nó. Tôi muốn chặt vào trong chăn rồi cùng cả hai tay bắt đầu bẻ cong nó. Càng bẻ, con cá càng giãy khỏe. Tưởng tượng cảnh chính mình bị quấn vào chăn và có ai cố bẻ gẫy mình như thế, tôi phát hoảng. Tôi dừng lại nhiều lần. Nhưng tôi vẫn biết rằng phải làm xong việc này, và càng lâu thì con cá càng phải chịu đau đớn nhiều hơn.
Nước mắt ròng ròng, tôi cố mãi cho tới lúc nghe thấy tiếng rắc và không còn thấy động cựa gì trong tay mình nữa. Tôi giở chăn ra. Con cá bay đã chết. Nó bị bẻ gẫy rời, đẫm máu ở một bên mang.
Tôi khóc lóc đắng cay cho linh hồn của một con vật nhỏ đáng thương. Đó là sinh linh đầu tiên đã bị tôi giết chết. Từ nay tôi đã thành kẻ sát sinh. Từ nay tôi đã mắc tội như Canin (2). Tôi mười sáu tuổi, một thằng bé vô hại, sách vở và tín ngưỡng, và giờ thì tay tôi đã vấy máu. Đó thật sự là một gánh nặng phải mang theo cho đến hết đời. Sinh linh nào cũng thiêng liêng cả. Tôi không bao giờ quên con cá đó trong những lời cầu nguyện của mình.
Sau đó thì dễ dàng hơn. Nó đã chết rồi. Con cá bấy giờ chỉ còn như những con cá tôi đã thấy ngoài chợ Pondicherry. Nó thành một cái gì khác rồi, một cái gì đó bên ngòai quá trình sáng tạo của thế giới. Tôi dùng rìu chặt nó thành từng miếng nhỏ rồi bỏ cả vào trong xô.
Những giờ còn lại của ngày hôm đó, tôi lại thử câu cá. Lúc đầu cũng chẳng may mắn gì hơn buổi sáng. Nhưng có vẻ như sẽ dễ có kết quả hơn. Rõ ràng là chúng thích. Tôi nhận ra rằng đó là những con các nhỏ, quá nhỏ đối với lưỡi câu. Tôi quăng dây ra xa hơn và thả cho chum xuống sâu hơn, ra ngoài phạm vi của bọn cá nhỏ lăng quăng sát cạnh bè và xuồng.
Chỉ đến khi tôi dùng cả cái đầu con cá bay làm mồi, quăng dây ra xa rồi nhanh chóng kéo về, khiến cho cái đầu lướt nẩy trên mặt nước, tôi mới có được cú cắn đầu tiên. Một con dorado nhào lên và lăn xả vào đầu cá. Tôi thả chùng dây một chút để đảm bảo cho con cá nuốt chửng được mồi, rồi lập tức giật mạnh. Con dorada vọt hẳn lên mặt nước như một viên đạn, kéo cái dây mạnh đến nỗi tôi tưởng mình sẽ bị kéo ngã xuống biển. Cái dây câu rất chắc. Nó sẽ không đứt. Tôi bắt đầu kéo con dorado vào bè. Nó chống cự với tất cả sức mạnh của nó, nhẩy lên, nhào xuống, quẫy mạnh bên này, bên kia. Dây câu cứa vào tay tôi. Tôi phải lót tay bằng cái chăn. Tim tôi đập thình thịch. Con cá khỏe như một con bò đực. Không biết tôi có đủ sức kéo nó vào không.
Tôi để ý thấy tất cả những con cá khác xung quánh bè và xuồng đã biến mất. Rõ ràng là chúng đã biết tình trạng tuyệt vọng của con cá mắc câu. Tôi vội vã. Tình trạng này sẽ lôi kéo cá mập đến mất. Nhưng con cá chiến đấu hăng như quỉ. Hai cánh tay tôi đau nhừ. Mỗi lần tôi lôi được nó vào gần bè, nó lại vùng vẫy điên cuồng đến mức tôi đành phải nới dây ra một chút.
Cuối cùng thì tôi cũng kéo được nó lên. Con cá dài đến gần một thước. Cái xô thành vô dụng. Nó sẽ chỉ vừa bằng cái mũ đội đầu cho con cá. Tôi giữ con các xuống bằng cách quỳ lên nó và dùng cả hai tay. Một khối nguyên những cơ bắp đang quẫy, đập thình thịnh lên bè. Cái đuôi thò ra ngoài, bên dưới tôi. Tôi cưỡi lên nó như một cao – bồi cưỡi lên một con ngựa bất kham đang lồng lộn. Tâm trạng tôi thật đắc thắng và hoang dã. Một con dorado là một con cá lớn, hoành tráng, chắc nạc và thon thả, với một cái tràn gồ biểu lộ một cá tính mạnh mẽ, một cái vây lưng rất dài và ngạo nghễ như cái mào của một con gà trống, và bộ vẩy mượt mà sáng trưng. Tôi cảm thấy như đang giáng cho số phận một đòn chí tử vì đã khuất phục được một đối thủ đẹp đẽ đến vậy. Với con cá này, tôi đã trả đũa lại biển cả, gió bão, nạn đắm tàu, trả đũa lại tất cả những nghịch cảnh mà tôi đã phải chịu. Tôi hét lên: “Hỡi thần Vishnu, con xin tạ ơn Người! Xưa kia Người đã cứu thế giới bằng cách hiện hình cá. Nay thì người đã cứu con cũng bằng cách hiện hình thành cá. Xin tạ ơn Người!”
Giết nó không khó. Nếu không phải lấy cái lưỡi câu ra thì tôi sẽ dành việc ấy cho Richard Parker, là kẻ có quyền và sẽ ăn sống nuốt tươi ngay con cá. Câu được con dorado khiến cho tôi hỉ hả vô cùng, hơn cả như câu được một con hổ. Tôi tự tay giết nó. Tôi cầm rìu bằng cả hai tay và hết sức liên tiếp bổ đầu búa xuống con cá. Tôi vẫn không dám dùng lưỡi sắc của rìu. Con dorado làm một việc khác thường khi nó chết: nó bắt đầu phát ra đủ các loại ánh sáng mầu sắc khác nhau. Xanh da trời, xanh lá cây, đỏ, vàng, lửa và tím thi nhau lấp lánh như đèn neon trên tấm thân đang giẫy dụa của nó. Tôi tưởng như mình đang đập chết một dải cầu vồng. Sau này tôi mới biết loài dorado nổi tiếng vì cái chết sặc sỡ rỡ ràng của chúng. Cuối cùng, nó nằm im và không còn mầu gì nữa, tôi gỡ được cái lưỡi câu. Thậm chí tôi còn gỡ lại được một phần mồi.
Có thể kinh ngạc một điều là chỉ trong một thời gian ngắn ngủi đến thế, tôi đã đi từ chỗ khóc lóc vì cái chết âm thầm của một con cá bay đến chỗ hăng hái đập chết một con dorado. Có thể biện hộ rằng tôi đã thấy e ngại và không nỡ giết một con cá bay chỉ vì trốn chạy và lầm đường rơi vào tay tôi, còn con dorado lớn lao kia thì tôi đã phải cố hết sức để bắt nó và sự phấn khích của chiến công ấy đã khiến tôi hăng máu, tự tin ở việc giết chết nó. Nhưng thực tế mà nói thì lí do không phải như vậy. Mà đơn giản và tàn khốc hơn nhiều: người ta có thể quen với bất kì việc gì, kể cả chết choc.
Với lòng tự hào của một kẻ đi săn, tôi kéo cái bè vào gần xuồng. Tôi cho bè áp vào mạn xuồng, cúi người thất thấp, rồi vung tay ném con dorado vào trong xuồng. Nó rơi xuống với một tiếng thịch thật nặng, và tôi nghe thấy Richard Parker phát ra một âm thanh bật gió đầy ngạc nhiên. Sau một vài tiếng hít hà, tôi nghe rõ tiếng miệng hổ ngoạm nhai nhoàn nhoạp. Tôi đẩy bè ra, không quên thôi lên nhiều hồi còi để Richard Parker biết rằng ai đã cho nó suất thức ăn tươi sống đó. Tôi dừng lại nhặt một ít bánh quy và một hộp nước uống. Năm con cá bay rơi vào trong tủ đã chết cả. Tôi vặn hết cánh của chúng vứt đi, rồi quấn cả vào cái chăn nay đã thành thiêng liêng vì mạng cá.
Khi tôi đã rửa sạch các vết máu trên người, lau chùi bộ đồ câu, thu xếp gọn ghẽ mọi thứ và ăn xong bữa tối thì đêm đã buông xuống. Một màn mây mỏng che khuất các vì sao và vầng trăng. Trời rất tối. Tôi thấm mệt, nhưng vẫn còn phấn khích vì những sự kiện của những giờ trước đó. Cảm giác bận rộn khiến tôi thấy vô cùng sảng khoái. Tôi đã không nghĩ một tí gì đến tình trạng hoặc bản thân mình. Câu cá quả là cách dùng thời gian hay hơn kể chuyện hoặc chơi trò Gián điệp rất nhiều. Tôi quyết định sẽ lại câu cá ngay khi rạng ngày sáng hôm sau.
Tôi ngủ thiếp đi, đầu óc còn sáng rỡ những lấp lánh sặc sỡ của con dorado đang đi vào cõi chết.
***
Đêm đó tôi ngủ chập chờn. Sắp sáng thì tôi không cố ngủ nữa mà chống tay nằm lên. Và cặp mắt nhỏ nhoi của tôi nhìn thấy một con hổ. Richard Parker đang không yên. Nó rên rỉ, gầm gào, và đi quanh quẩn vòng quanh xuồng. Lạ thật. Tôi thử đánh giá tình hình. Nó không thể đói được. Chí ít cũng không đến nỗi đói quá mà trở thành nguy hiểm. Nó khát chăng? Lưỡi nó thè lè thật, nhưng chỉ chốc lát thôi, và nó không hề hổn hển. Bụng và chân nó vẫn ướt, tuy không sũng nước như trước. Có thể là nước mưa đọng trong xuồng đã cạn bớt. Chẳng mấy chốc, nó sẽ khát.
Tôi nhìn lên trời. Màn mây mỏng đã tan đi. Trời trong vắt, chỉ có vài vẩn mây nhỏ phía chân trời. Sẽ là một ngày nóng bức không mưa nữa đây. Biển chuyển mình một cách lười nhác, như thể đã thấy mệt vì cái nóng sắp đến.
Tôi ngồi dựa cột buồm và suy nghĩ về vấn đề của chúng tôi. Bánh quy và bộ đồ câu sẽ đảm bảo phần cứng của khẩu phần hàng ngày của chúng tôi. Phần nước mới là cái lo. Nước thì đầy rẫy quanh chúng tôi, nhưng lại không uống được vì có muối. Tôi có thể trộn một ít nước biển vào nước uống của nó, nhưng đầu tiên là phải kiếm được phần nước uống ấy đã. Các hộp nước không thể đủ cho cả hai chúng tôi về lâu dài – thực sự là tôi không hề muốn chia thứ nước này cho Richard Parker một tí nào – còn trông chờ vào nước mưa không thì thôi thì thật là ngốc.
Chỉ còn có những cái máy cất nước bằng nắng kia mà thôi. Tôi nghi ngờ liếc nhìn chúng. Chúng đã ở dưới nắng được hai ngày rồi. Tôi thấy một cái đã có vẻ xịt hơi. Tôi kéo dây buộc nó vào và thổi phồng cái chóp nón trở lại. Không mong chờ gì, tôi thò tay xuống nước xem cái túi chứa bên dưới hộp phao nó ra sao. Những ngón tay tôi thấy cái túi căng tròn một cách bất ngờ. Tôi run hết cả người. Trấn tĩnh lại, nhỡ chỉ là nước biển đã lọt vào đó thì sao. Tôi gỡ cái túi ra, rồi theo đúng chỉ dẫn, hạ thấp nó xuống và nghiêng cái máy cất để bất kì chút nước nào còn đọng quanh đáy chóp nón sẽ chảy hết vào túi. Tôi đóng hai cái nắp nhỏ, tháo hẳn cái túi ra và kéo nó lên. Nó hình khối vuông, làm bằng nhựa dẻo dày, mềm và có màu vàng, với những vạch đo độ in ở một bên sườn. Tôi nếm nước chứa trong túi. Tôi nếm lại lần nữa. Không hề mặn chút nào.
“Con bò sữa biển ngọt ngào của ta ơi!” Tôi thốt lên với cái máy cất nước. “Mày đã ra sữa rồi, và mới ngon làm sao! Vẫn hơi có mùi cao su, nhưng tao không phàn nàn đâu. Đây này, hãy xem tao uống đây này!”
Tôi uống hết túi nước. Nó có dung tích một lít và đã chứa gần đầy. Sau một phút thở dài nhắm mắt tận hưởng sung sướng, tôi lắp lại cái túi. Tôi kiểm tra các máy cất khác. Cái nào cũng có một túi nặng tương tự. Tôi thu được hơn tám lít nước ngọt, phải nói như là sữa tươi, và chứa cả vào cái xô cá. Lập tức, những cái bẫy kĩ thuật đó trở thành quá quý giá với tôi như bầy gia súc đối với một trại chủ. Quả thật, dập dềnh lười nhác trên mặt nước thế kia, chúng cũng giống một đàn bò đang gặp cỏ trên cánh đồng. Tôi chăm chút vào chúng, đảm bảo để cái nào cũng đầy nước biển và chóp nón với hộp phao nào cũng được thổi căng vừa phải.
Sau khi thêm một ít nước biển vào xô, tôi đặt nó lên mặt ghế bên mạn xuồng ngay sát cạnh mép bạt. Không khí mát mẻ của buổi sáng đã hết. Richard Parker có vẻ đã yên vị ở phía dưới. Tôi buộc cái xô vào chỗ đó bằng dây và dùng thêm các móc của tấm bạt ở phía xuồng. Cẩn thận, tôi ngó trộm qua mạn xuồng. Nó đang nằm nghiêng. Hang ổ nó là một cảnh tượng bẩn thỉu. Các con thú chết chất thành một đống các bộ phận cơ thể thối tha rất lạ mắt. Tôi nhận ra một vài cẳng chân, nhiều mảnh da, mảnh đầu, rất nhiều xương. Cánh các con cá bay rải rác khắp nơi.
Tôi chặt một con cá bay và ném một khúc xương lên trên mặt ghế. Sau khi đã thu thập đủ những thứ cần thiết từ trong tủ đủ cho ngày hôm đó và sắp quay về bè, tôi ném thêm một khúc cá lên mui bạt ngay trước mũi Richard Parker. Nó có tác dụng như ý muốn. Khi bè đang trôi xa khỏi xuồng, tôi thấy nó ra khỏi chỗ ẩn náu để lượm khúc cá với món đồ lạ ngay cạnh. Nó đứng dậy nghiêng cái đầu khổng lồ vào xô nước. Tôi cứ sợ nó sẽ làm đổ cái xô. Nhưng không. Mặt nó biến hẳn vào trong xô, gần khít khịt, và nó bắt đầu uống. Chỉ một nhoáng cái xô bắt đầu lắc và kêu lạch cạch mỗi khi nó liếm xoàm xoạp vào đáy xô. Khi nó ngẩng lên, tôi nhìn chằm chằm một cách dữ tợn vào mắt nó và thổi một vài hồi còi. Nó biến mất vào bên dưới tấm bạt.
Tôi nảy ra ý nghĩ rằng cứ mỗi ngày qua đi, cái xuồng lại càng giống một vườn thú hơn. Richard Parker đã có khi vực nằm nghỉ và ngủ nghê của nó, rồi chỗ chứa thức ăn, chỗ nhìn ngó ra bên ngoài, và bây giờ thì cả một chỗ để uống nước.
Nhiệt độ mỗi lúc một cao. Nóng đến ngột ngạt. Suốt ngày hôm đó, tôi ngồi dưới dù che và câu cá. Có vẻ là tôi đã hết cái may mắn của người mới đi câu với con dorado đầu tiên ấy. Cả ngày hôm đó tôi chả câu được gì, kể cả buổi chiều tà, khi nước biển có vẻ đầy rẫy sự sống bên dưới. Một con rùa xuất hiện, lần này là loài khác, một con rùa biển xanh lá cây, cồng kềnh hơn và nhẵn nhụi hơn, nhưng cũng tò mò như con rùa mỏ diều lần trước. Tôi không phản ứng gì với nó, nhưng bắt đầu nghĩ mình phải làm gì đó với bọn rùa này.
Cái duy nhất có thể gọi là tốt đẹp của một ngày nóng nực như vậy là cảnh tượng dãy phao cất nước. Chóp nón nào cũng đầy những giọt và vệt nước đọng ngoằn ngoèo bên trong.
Cuối ngày hôm đó, tôi tính ra là sáng hôm sau sẽ là trọn một tuần kể từ hôm Tsimtsum chìm xuống đáy đại dương.
***
Gia đình Robertson sống sót được tám mươi tám ngày trên biển cả. Thuyền trưởng Blight của con tàu Bounty nổi tiếng đã bị thuỷ thủ nổi loạn và ông cùng những người cộng sự của ông bị ném ra khỏi tàu đã sống được bốn mươi bảy ngày. Steven Callahan sống được bảy mươi sáu ngày. Owen Chase, mà câu chuyện của ông về tàu đánh cá voi Essex đã bị một con cá voi đánh chìm ra sao đã là nguồn cảm hứng của Herrman Melville, đã sống được tám mươi ba ngày trên biển cả cùng với hai thuỷ thủ, trong đó có một tuần lễ trên một hòn đảo thù địch. Gia đình Bailey sống được một trăm mười tám ngày. Tôi nghe một thuỷ thủ thương gia Triều Tiên tên là Poon gì đó đã sống sót trên Thái Bình Dương trong một trăm bảy mươi ba ngày vào những năm 1950.
Tôi đã sống sót trên biển trong hai trăm hai mươi bảy ngày. Thử thách của tôi kéo dài như vậy đấy, hơn bảy tháng trời.
Tôi giữ cho mình luôn bận rộn. Đó là chìa khoá để sống còn. Trên một chiếc xuồng, thậm chí một cái bè, lúc nào cũng có những việc cần phải làm. Một ngày điển hình của tôi, nếu khái niệm đó có thể áp dụng cho một kẻ đắm tàu, đại khái diễn ra như sau:
Từ lúc mặt trời mọc cho đến giữa buổi sáng:
* thức dậy
* cầu nguyện
* cho Richard Parker ăn sáng
* kiểm tra chung tình trạng của bè, xuồng, đặc biệt chú ý đến tất cả các nút dây buộc
* chăm chút các máy cất nước (lau chùi, thổi căng, đổ nước)
* ăn sáng và kiểm tra kho đồ ăn
* câu cá và làm cá nếu cắn câu (mổ, rửa, phơi các rẻo thịt lên dây để phơi nắng cho chín)
Từ giữa sáng đến chiều muộn:
* cầu nguyện
* ăn nhẹ bữa trưa
* nghỉ ngơi và làm những việc nhẹ nhàng (viết nhật kí, xem xét các vết xây xát trên người, sửa sang các vật dụng, thu xếp tủ chứa cho gọn gàng, quan sát và nghiên cứu Richard Parker, vân vân)
Từ cuối chiều đến gần tối:
* cầu nguyện
* câu cá và làm cá
* chăm các rẻo thịt phơi (lật mặt, cắt bỏ các chỗ ươn)
* chuẩn bị bữa ăn tối
* ăn bữa tối cùng với Richard Parker
Mặt trời lặn:
* kiểm tra tình trạng chung của bè và xuồng (dây với nút buộc)
* thu trữ nước ngọt từ các máy cất
* cất giấu tất cả thức ăn và vật dụng
* sửa soạn cho ban đêm (soạn chỗ nằm, cất pháo sáng vào nơi an toàn trên bè để nhỡ có gặp tàu đi qua, và cái hứng mưa để nhỡ có mưa ban đêm)
* cầu nguyện
Đêm:
* ngủ từng giấc ngắn
* cầu nguyện
Các buổi sáng thường dễ chịu hơn những lúc chiều muộn, khi sự trống rỗng của thời gian có chiều hướng hiện ra trong lòng rõ rệt hơn.
Bất kỳ sự kiện gì cũng có ảnh hưởng đến nếp sống thường ngày đó. Trời mưa, bất cứ lúc nào, cũng dừng mọi việc khác đang làm, và trong lúc mưa, tôi giữ cái hứng nước, hăng hái tập trung vào việc thu trữ nước hứng được. Có con rùa xuất hiện cũng là một ngắt quãng lớn. Và tất nhiên, Richard Parker là một náo động thường xuyên. Điều gì làm cho nó yên được là tôi ưu tiên không dám lơi là một phút nào. Nó chẳng có một nếp công việc gì ngoài ăn, uống và ngủ, nhưng có những lúc nó bị khuấy đảo khỏi tình trạng ù lì và lồng lộn quanh lãnh thổ của mình, đánh động, trở nên khó hiểu. May sao, lần nào như vậy, nó cũng nhanh chóng bị nắng và nước biển bao la làm cho mệt mỏi và chỉ biết quay vào trong mui bạt, lại nằm nghiêng hoặc ép bụng xuống sàn xuồng, đầu dựa lên hai chân trước bắt chéo nhau.
Nhưng tôi không chỉ để ý đến nó vì cần thiết. Tôi qua hàng nhiều giờ liền chỉ quan sát nó vì đó cũng là một việc thu hút sự chú ý của tôi. Một con hổ lúc nào cũng là một con thú đầy thú vị, và càng như thế khi ta chỉ có nó là bạn đồng hành.
Lúc đầu, tôi luôn có ý thức nhìn quanh và trông chờ một con tàu xuất hiện, gần như là không nhìn được. Nhưng sau một vài tuần, năm sáu tuần gì đó, tôi hầu như hoàn toàn không có ý thức ấy nữa.
Và tôi đã sống sót bởi vì tôi đã quyết định phải lãng quên. Câu chuyện của tôi bắt đầu vào một ngày có trong lịch – ngày 2 tháng 7 năm 1977 – và kết thúc vào một ngày cũng có trong lịch – ngày 14 tháng 2 năm 1978 – nhưng khoảng thời gian giữa hai ngày đó thì không có lịch nào cả. Tôi không đếm ngày, đếm tuần, đếm tháng. Thời gian là một ảo giác chỉ làm cho ta phải thở dốc. Tôi đã sống vì tôi đã quên cả ý thức về thời gian.
Những gì tôi nhớ được là các sự kiện và các cuộc gặp gỡ, cùng các nếp quen thuộc hàng ngày, những dấu mốc tự chúng xuất hiện đây kia từ đại dương thời gian và in hằn vào kí ức tôi. Ví dụ như mùi của các vỏ pháo sáng đã phóng lên từ tay tôi, những lời cầu nguyện khi rạng ngày, việc giết rùa, và các đặc tính sinh học của các loài tảo. Và nhiều cái khác nữa. Nhưng tôi không biết có thể kể lại chúng theo trình tự hay không. Ký ức tôi trở lại thành từng mớ hỗn độn
Ghi chú:
1- Người La Mã truyền giảng đạo Cơ Đốc, bị chính quyền bắt và giết năm 1887, sau được Giáo hội Cơ Đốc phong thánh. Sebastian bị trói đứng vào cọc, trần trụi, và bị lính dùng cung nỏ bắn tên vào người cho đến chết. ( ND )
2 - Nhân vật trong Kinh Thánh Cơ đốc: là kẻ sát nhân đầu tiên trong lịch sử nhân loại, đã giết chết chính anh trai của mình. ( ND )

